Võ sư ẩn tích và nỗi niềm “quyền An Thái”
|
Võ sư Lâm Ngọc Phú biểu diễn thế “Kim kê đoạt mục” |
TPCN - Hàng ngày, ông bốc rạ, phơi rơm như một lão nông thực thụ. Ít ai biết rằng, ông là một “pho lịch sử sống” những chặng đường thăng trầm của võ cổ truyền Tây Sơn. Chỉ những bậc cao niên ở làng An Thái (huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) mới biết ông đã từng là một “cao thủ võ lâm” từng nức tiếng trên các võ đài từ Nam chí Bắc...
“Đại chưởng môn” Bình Sơn võ quán
Trưa tháng 4, nắng gay gắt như càng làm con đường ngoằn ngoèo về làng An Thái miền đất võ Tây Sơn dài thêm. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện về lão võ sư Lâm Ngọc Phú cách đây 7 năm. Hồi đó, tôi đang theo học một lớp võ Thiếu Lâm ở Huế, nghe kể rằng có một chàng thanh niên người Ninh Bình đã vô cùng gian nan, vất vả mới tìm được thầy Phú để được thầy “thâu nạp” làm đệ tử.
Chàng thanh niên đó nghe nói giờ đây đang là một võ sư nổi tiếng ở Tây Nguyên. Bây giờ ngẫm lại, quả thật tìm được thầy Phú không dễ chút nào. Căn nhà nhỏ nằm ở cuối thôn An Thái tĩnh mịch, khác xa sự tưởng tượng của tôi về một võ đường uy nghiêm hoặc chí ít thì cũng là “ngôi nhà” khang trang để xứng danh với lão võ sư đã từng là “Đại chưởng môn” Bình Sơn – một võ quán lừng danh trước năm 1975 ở đất võ Bình Định.
Giữa mùa gặt nên thầy Bảy Phú – người dân làng An Thái thường gọi ông như vậy, đang phơi lúa như một lão nông thực thụ.
Lão võ sư Lâm Ngọc Phú đạt bằng võ sư danh dự năm 1971, lấy bằng võ sư chính thức do Tổng cục Quyền thuật Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) cấp năm 1974, văn bằng diploma do Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam cấp năm 1999. Ông từng giành được Huy chương vàng trong cuộc thi Võ cổ truyền toàn quốc năm 1991, được Liên đoàn Võ thuật Việt Nam tặng bằng khen vì những thành tích đóng góp cho Võ cổ truyền Việt Nam cùng nhiều huy chương, phần thưởng cao quý khác...”. |
Mái tóc bạc phơ, dáng người đen sạm, chắc nịch dưới nắng trưa chang chang, thầy ngước đôi mắt vẫn còn rất tinh anh nhìn tôi, thủng thẳng: “Lâu rồi không có ai ghé thăm, cậu là người khách lạ đầu tiên của năm nay ! Hồi trước còn kẻ ra người vào, bây giờ thì lão đây được yên tĩnh cái thân già này rồi. Tiện bữa, mời cậu dùng cơm”. Bữa cơm trưa tại nhà võ sư Lâm Ngọc Phú có lẽ là một trong những bữa ăn đặc biệt và đầm ấm trong những tháng ngày thường phải đi ăn cơm thiên hạ của tôi! Người ngồi đối diện, vừa trò chuyện, vừa gắp thức ăn cho tôi chính là “Đại chưởng môn” Bình Sơn võ quán danh nổi như cồn ở xứ Bình Định trước năm 1975. Chén rượu Bàu Đá nóng ran người làm những hồi tưởng của ông như một thước phim quay chậm...
“Năm tôi 20 tuổi thì Bình Sơn võ quán xảy ra biến lớn. Một võ sư người Tàu tên là Diệp Trường Phát, với biệt hiệu Sáu Tàu đã đến Bình Sơn thách đấu với cha tôi – võ sư Lâm Đình Thọ.
Vị võ sư này xuất thân từ môn phái Thiếu Lâm Vịnh xuân quyền. Trận quyết đấu bất phân thắng bại, nhưng kể từ đó, một số môn đệ của cha tôi đã bắt đầu nghiêng sang học Thiếu Lâm ở lò võ Quách Cang của ông Diệp Trường Phát.
Cha tôi và ông ta sau đó trở thành bạn tâm giao, nhưng tôi thì không chịu được. Tôi không muốn bất kỳ một môn phái nào được đứng vững trên trấn Bình Định ngoài Bình Sơn võ quán. Vẫn biết rằng Thiếu Lâm là danh môn chính phái, quốc võ của Trung Hoa, nhưng hồi đó tôi còn trẻ, không thích là vẫn gây sự”.
Với những suy nghĩ của mình, chàng thanh niên Bảy Phú đã thách đấu với đại sư Diệp Trường Phát và đương nhiên là anh thua cuộc. Nhưng cũng sau lần đó, chàng ta ngộ ra được nhiều điều và nhận thấy bể học quả thật mênh mông, núi này cao, ắt có núi khác cao hơn. Bảy Phú bái Diệp Trường Phát làm sư phụ với quyết tâm kế thừa và hợp nhất những tinh túy võ học của Bình Sơn và Thiếu Lâm. Về phần sư phụ Sáu Tàu, ông cũng chú tâm truyền thụ tất cả các tuyệt kỹ Thiếu Lâm cho người đệ tử mà ông yêu quý nhất.
Theo thời gian, cùng những lần thượng đài nảy lửa, Bảy Phú đã tự mình sáng chế ra những chiêu thức từ việc kết hợp hai võ phái Bình Sơn và Thiếu Lâm với nhau... Những lần thượng đài bách chiến bách thắng của chàng trai trẻ Bảy Phú không thể qua mắt được các cao thủ đến từ khắp nơi, và Ba Hổ là một trong những số đó.
Năm 1961 có lẽ là lần thượng đài vang dội nhất ở trấn Bình Định giữa tay lính Cộng Hòa Ba Hổ và Bảy Phú. Nghe nói Ba Hổ là một võ sĩ thuộc phái Thanh Lâm, người Miên, nặng trên 80 cân, cao lớn, dữ dằn. Ba Hổ nổi danh bởi nhiều cao thủ đã bỏ mạng khi hắn ra chiêu thức quái gở, với những cú đấm nặng như búa tạ. Bảy Phú lim dim nhớ lại trận đấu ác liệt: “Hiệp 1 tôi chỉ toàn chống đỡ những quả đấm như trời giáng của hắn, mà nếu như tình thế kéo dài thì chắc chắn mình sẽ bất lợi vì hắn rất khỏe.
Sang hiệp hai, tôi quan sát thấy mỗi khi nó tung chân đá thì bộ thủ rất chắc nhưng lại hở vùng ngực và cổ, ngay lập tức, khi nó ra cú đá quyết định, tôi dùng thế “Mạnh Lượng đạt mã, đạt mã phá thành” tung người, kẹp cổ quật hắn vào góc. Chỉ cần chừng đó thôi, số phận của hắn được định đoạt. Đó là trận chiến ác liệt nhất đời tôi...
Năm 1971, lúc này ông 37 tuổi, đã là “chưởng môn” đời thứ nhất Bình Sơn võ quán, nhận bằng võ sư do quận An Nhơn (cũ) cấp ngày 30/5/1971. Từ năm 1971 – 1985 là thời kỳ hoàng kim của võ quán Bình Sơn, với nhiều lớp đệ tử vang danh dưới sự chỉ bảo của sư phụ Lâm Ngọc Phú. Sau đó, cơn lốc thị trường và cuộc chiến cơm áo đời thường khiến võ sinh dần dần bỏ cuộc. Các võ quán nhỏ khác như Quách Cang, Hải Sơn, Bình Phú... đều phải đóng cửa. Duy nhất Bình Sơn vẫn trụ lại được nhưng càng ngày càng lay lắt... Quyền An Thái sẽ bị thất truyền ?
Lão võ sư Lâm Ngọc Phú kể rằng sở dĩ dân gian truyền miệng câu “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái” là xuất phát từ việc cha ông, võ sư Lâm Đình Thọ sở hữu bài quyền Lâm gia được giới võ thuật thời bấy giờ mệnh danh “Quyền An Thái ngã vô song” (không có bài thứ 2).
Còn ở làng Thuận Truyền, võ sư Hồ Ngạnh cũng vang danh với bài roi kỳ ảo mà cho đến nay đã thất truyền. Thế nên, làng võ Tây Sơn mới có câu “Roi Thuận Truyền di hữu chủ” (chỉ truyền một chủ).
Bài quyền Lâm gia được Bảy Phú giữ gìn như một báu vật, ông vẫn chưa truyền lại cho bất kỳ ai, bởi người đủ sức lĩnh hội hết những tinh hoa trong bài quyền thuật và bài Thập bát binh khí này vẫn chưa xuất hiện.
Ông buồn rầu: “Con trai cả của tôi là võ sư Lâm Ngọc Ánh, người duy nhất đã học hết 8 phần trong bài quyền Lâm gia, nhưng võ đường của nó hiện nay cũng hiu hắt lắm. Lớp trẻ chỉ đến tập mùa hè, càng ngày càng thưa dần. Mà chúng cũng quan niệm học võ cũng chẳng để làm gì, mấy khi làng xã có lễ hội, mượn người của võ đường ra múa may một chút rồi thôi. Nó cũng phải làm ăn để nuôi vợ con. Tôi biết, nó đam mê lắm nhưng đành chịu...”.
Bữa cơm trong nhà thầy Phú tạm dang dở vì trời mưa, tôi phải cùng ông hấp tấp ra dọn lúa. Trong cơn mưa sớm đầu hè, bóng vị đại võ sư còng xuống theo dòng thời gian. Tôi biết, dù đã không màng đến thế sự, cuộc đời, nhưng tận sâu thẳm tâm hồn vẫn đau đáu trước một tương lai rồi đây miền đất thượng võ An Thái chỉ còn ký ức của một mình ông...
Diễn thế Kim kê đoạt mục cho tôi xem, ông giảng giải: Thế này chỉ được phép dùng trong những tình huống tối kỵ. Vì đây là chiêu thức lấy mắt người ta.
Trong đạo học võ, lấy mắt còn độc hơn lấy mạng. Vì vậy, người theo nghiệp võ càng ngày càng hiếm và quyền An Thái có thể thất truyền cũng bởi lớp đệ tử ngày nay ít người hội tụ đủ cả chữ Tài lẫn chữ Tâm. Vâng! Có lẽ không chỉ học võ mà làm cái gì cũng vậy, chỉ tài thôi chưa đủ...
Võ cổ truyền Bình Định
bài võ Mai Thanh Tuâ'n
Nếu đến thăm đất Qui Nhơn quê hương của người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ, bạn sẽ có dịp được thưởng thức những buổi biểu diễn của môn phái võ cổ truyền Bình Định (CTBĐ) với những động tác uyển chuyển, nhanh nhẹn, nhưng cũng đầy khí chất dũng mãnh, quật cường của các bài quyền, bài binh khí, đặc biệt là bài quyền Ngọc Trản, bài roi (côn) Thái Sơn nổi tiếng đã đi vào lịch sử với câu ca dao:
Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền"
Võ Bình Định phát triển sâu rộng trong quần chúng không chỉ có "nam nhi" mà cả "phái
yếu" cũng luyện rèn võ nghệ và đã có sức thu hút mãnh liệt, trở thành món ăn
tinh thần của người dân Bình Định. Đặc biệt khi có hoạ ngoại xâm thì lập tức mọi
người tập luyện võ nghệ để chiến đấu chống quân thù. Rõ nét nhất là trong thời
Tây Sơn và trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp xâm lược, võ CTBĐ không những
rèn luyện thể lực, tính dũng cảm cho quân đội và nhân dân, mà còn được áp dụng
khá thành công vào binh pháp, vào phép dùng binh, vào sách lược, chiến lược quân
sự, nhất là trong cách đánh cận chiến.
Để nghiên cứu làm rõ nguồn gốc và đặc trưng của võ CTBĐ, một đề tài khoa học đã
được Sở Thể dục - Thể thao Bình Định tiến hành từ hơn 2 năm nay nhằm sưu tầm,
thu thập những thông tin, tư liệu qua những người thật, việc thật, qua các địa
danh, chứng tích của các hoạt động võ nghệ ở nhiều giai đoạn lịch sử rồi từ đó
tổng hợp, phân tích, minh chứng cho một câu hỏi: Võ CTBĐ có đặc điểm khác biệt
nào so với các dòng võ khác?
Nguồn gốc võ
CTBĐ
Từ thế kỷ XV trở đi, cùng với việc tiến về phía Nam của người Việt cổ, nhiều
dòng họ đã đến Bình Định khai hoang, lập ấp. Các cư dân đã tiếp nhận và thích
nghi với nhiều yếu tố của nền văn hoá địa phương, tạo nên tư chất và cốt cách
của con người ở vùng đất mới Bình Định, nơi hội tụ, kế thừa truyền thống thượng
võ của dân tộc.
Người Bình Định vừa có phẩm chất cao quí của cư dân vùng đồng bằng Bắc Trung Bộ,
Bắc Bộ với các đức tính: mộc mạc, cần cù, giản dị, sáng tạo, nhân ái, kiên cường,
dũng cảm, vừa mang sắc thái của địa phương: tính khảng khái, hào hiệp, tinh thần
thượng võ. Theo Đại Nam nhất thống chí: Người Bình Định tính tình trầm, gan dạ,
thích làm việc nghĩa. Người học thức phần nhiều nho nhã, trung hậu. Đồ mặc, đồ
dùng giản dị, mộc mạc, không ưa văn hoa. Ngày rảnh việc hay bày hát tuồng, múa
võ.
Bình Định luôn gợi trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam niềm cảm tình sâu sắc về
một vùng đất thượng võ lâu đời, với hồn thiêng sông núi đã hun đúc nên khí chất
anh hùng bất khuất, làm nên bao sự tích oanh liệt, góp phần tô thắm vào trang sử
vàng dân tộc.
Quá trình
hình thành và phát triển
Dựa vào điều kiện lịch sử, căn cứ vào các tiêu chí: mức độ qui mô phát triển võ,
trình độ võ nghệ, tính chất giai cấp, mục tiêu phục vụ của võ nghệ trong từng
giai đoạn, đề tài lấy mốc thời Tây Sơn làm trung tâm vì đây là thời điểm đỉnh
của võ CTBĐ.
Trước thời Tây Sơn (từ khoảng năm 1600), võ CTBĐ còn ở dạng sơ khai, hình thành
chủ yếu dựa trên các thao tác lao động và sử dụng công cụ lao động hàng ngày .
Đến thời Tây Sơn, bắt đầu có sự giao lưu, hoà nhập giữa các dòng võ và quy tụ
nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều võ quan, võ sư nổi tiếng. Võ CTBĐ thời Tây Sơn
được sử sách ghi nhận là thời kỳ hưng thịnh và phát triển rực rỡ nhất, được xây
dựng thành hệ thống võ học, được đưa vào hệ thống thi cử, đào tạo tướng sĩ, được
nghiên cứu và áp dụng triệt để, sáng tạo trong quân sự, trong chiến đấu, phục vụ
chiến trường và khuyến khích mở trường dạy võ khắp nơi.
Võ CTBĐ thời Tây Sơn là sự kết tinh và hoà quyện cao độ giữa các dòng võ, môn võ,
phái võ khác nhau (của người bản địa, võ từ Bắc hà vào v.v.) tạo nên sức mạnh
tổng hợp, chắt lọc tìm ra cái tinh tuý nhất để bồi đắp, bổ sung vào kho tàng võ
học chân truyền của dân tộc.
Sau thời Tây Sơn, mặc dù khi lên ngôi, Nguyễn ánh đã tiêu diệt mọi thành quả của
nhà Tây Sơn nhưng võ CTBĐ vẫn có khả năng tiềm ẩn và sức sống mãnh liệt, "võ
vườn" vẫn được bí mật truyền dạy trong các nhà chùa hoặc các bìa rừng, vẫn được
nhiều người tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm, viết sách lưu truyền lại cho các thế
hệ mai sau.
Đến nửa đầu thế kỷ XIX, các dòng võ nước ngoài, chủ yếu là võ Thiếu Lâm (Trung
Hoa) và nhiều môn võ như quyền Anh, Judo, Karatedo, Teakwondo... đã phát triển
khá mạnh ở Bình Định nhưng vẫn không thể lấn át được võ CTBĐ bởi vẫn giữ được
những đặc điểm độc đáo của nó.
Đặc điểm độc
đáo của võ CTBĐ
Về khía cạnh võ thuật, võ CTBĐ thể hiện rõ tính liên hoàn, tinh tế, uyên thâm,
kết hợp nhuần nhuyễn giữa cương và nhu, giữa công và thủ, giữa mạnh và yếu, giữa
bên trong (tinh, khí, thần) với bên ngoài cơ thể (thủ, nhãn, chỉ và thân).
Về võ lý, võ CTBĐ vận dụng triệt để học thuyết âm - dương, lấy phép ngũ hành và
phép bát quái làm nguyên lý cơ bản của "Song thủ ngũ hành vi bản", "Lưỡng túc
bát bộ vi căn" là cơ sở võ lý cho luyện tập bộ tay và bộ chân trong võ CTBĐ: Tấn
pháp trong bát quái và Thủ pháp trong Ngũ hành, có sự phối hợp cả hai phương
diện ngoại công và nội công.
Về võ đạo, còn gọi là cái đạo của người học võ. Ngoài những đức tính mà con
người đề cao trong rèn luyện đạo đức là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, võ đạo còn
thể hiện ở các mặt truyền thống: thượng võ, chống ngoại xâm; uống nước nhớ nguồn;
trọng nhân nghĩa...
Về nội dung, võ CTBĐ vô cùng phong phú, đa dạng nhưng tựu trung có 4 nội dung cơ
bản là: luyện công, quyền thuật, võ với binh khí, luyện tinh thần. Quyền còn gọi
là thảo bộ hay quyền tay không, bao gồm Cương quyền và Nhu quyền. Võ tay không
chia thành 4 nhóm: Võ thể dục, võ tự vệ, võ tỷ thí và võ chiến đấu. Binh khí
được dùng trong võ CTBĐ bao gồm binh khí dài và binh khí ngắn. Loại binh khí rất
cơ bản được lưu hành khá phổ biến ở Bình Định là côn (tiếng địa phương gọi là
roi) với nhiều "phách roi" độc đáo chỉ có ở võ CTBĐ: "Đâm so đũa", "Đá văn roi",
"Phá vây", "Roi đánh nghịch"... Nói về tận dụng vũ khí thô sơ chống giặc, Bình
Định có "Bài kiếm 12" nổi tiếng gồm 12 động tác được rút tỉa trong nhiều bài
kiếm tiêu biểu của Bình Định để hình thành một cách ngắn gọn, dễ tập, dễ nhớ,
được đưa vào luyện tập và thực hành chiến đấu đạt hiệu quả cao trong các lực
lượng vũ trang và bán vũ trang ở địa phương.
Trong các bộ môn về quyền thuật, "Ngọc Trản" là bài quyền tiêu biểu của võ CTBĐ,
trải qua thời gian, nó vẫn sáng chói như một "chén ngọc" với những bí quyết võ
công vô giá. Để thực hành được một cách nhuần nhuyễn, phải tính đến công sức
luyện tập cả về thể chất và ý thức nhằm tạo được sự thống nhất thành một ý niệm
duy nhất, như tính thuần khiết của viên ngọc. Đó chính là bí quyết khổ luyện của
lối quyền âm - dương trong Ngọc Trản công.
(Sưu tầm)
Tháng tám sắp tới, tâm điểm du lịch chắc chắn sẽ hướng về Bình Định, nơi đăng cai tổ chức Festival quốc tế võ cổ truyền VN lần đầu tiên, dự kiến sẽ diễn ra từ ngày 4 đến 7-8, nhằm tôn vinh sức mạnh dân tộc nhưng cũng sẽ hứa hẹn là một cú hích đánh thức hoạt động du lịch vốn trầm buồn của miền đất võ.
Võ thuật chắc chắn là một trong những yếu tố hấp dẫn du khách đến Bình Định bởi “di sản” lịch sử - văn hóa đặc thù này khó có thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác tại VN. Đến Bình Định mà không tham quan Bảo tàng Quang Trung, nơi lưu giữ hàng ngàn hiện vật có liên quan đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn; không được dịp thưởng thức nhạc võ; không ghé thăm các làng võ, không gặp những lão võ sư ở đó thì kể như chưa tới miền địa linh nhân kiệt này!
Xin mời bạn xuôi dòng sông Kôn, con sông huyết mạch của Bình Định, để bắt đầu một tour chuyên đề võ. Những điểm đến này ở gần thành phố Quy Nhơn, nơi xa nhất cũng chỉ khoảng trên 40km.
Bảo tàng Quang Trung nằm ở khúc đầu sông Kôn, được xây dựng ngay trên nền vườn nhà cũ của ba thủ lĩnh phong trào Tây Sơn (1771-1788). Tại đây trưng bày khoảng trên 11.000 hiện vật có liên quan đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn và vị anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ. Nếu có nhu cầu, bạn còn được xem các võ sĩ biểu diễn 18 môn binh khí Tây Sơn hòa trong tiếng trống trận hùng hồn của tay trống nữ kỳ cựu 46 tuổi Nguyễn Thị Thuận đánh như lướt trên bộ trống 12 chiếc; giúp bạn cảm nhận phần nào hào khí một thời của đội quân bách chiến bách thắng.
Nằm phía trước bảo tàng là di tích bến Trường Trầu, nơi ngày xưa anh Hai Trầu (biệt danh của Nguyễn Nhạc) khởi đầu và kết thúc những chuyến đi buôn trầu quanh vùng. Từ đây, xuôi theo dòng sông Kôn vài giờ bạn sẽ cập bến An Thái, tương truyền là nơi ngày xưa ba anh em nhà Tây Sơn đến học võ, nền tảng để sau đó họ xây dựng nên các đội quân tinh nhuệ của mình. Trong tiểu thuyết Sông Kôn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, An Thái hiện lên như một làng quê hiền hòa, trù phú, nơi chứng kiến mối tình cảm động giữa Nguyễn Huệ và con gái thầy võ của mình.
Đây cũng là nơi vào rằm tháng bảy âm lịch hằng năm diễn ra lễ hội Đổ Giàn, dịp để võ sinh các làng võ so tài cao thấp. Vào những năm đầu thế kỷ 20, An Thái đón nhận một võ sư môn phái Thiếu Lâm là ông Diệp Trường Phát, người Hoa, đến dạy võ. Từ đó nơi này trở thành một trung tâm võ thuật kết hợp tinh hoa võ Việt và Trung Hoa. Một trong những truyền nhân sau cùng của trung tâm võ này là võ sư Lâm Ngọc Phú năm nay 73 tuổi, chưởng môn võ đường Bình Sơn, lớn nhất tại An Thái hiện nay.
“Trai An Thái, gái An Vinh”. Từ bến An Thái nhìn qua bên kia sông là làng An Vinh, được cho là nơi xuất xứ câu ca dao nổi tiếng Ai về Bình Định mà coi/ Con gái Bình Định múa roi đi quyền. Tương truyền cô con gái một võ sư nổi danh làng này rất giỏi võ, đã 22 tuổi vẫn chưa lấy chồng. Lão võ sư “kén rể” bằng lời thách thanh niên nào hạ được cô sẽ trở thành rể của ông. Vậy mà không ai địch nổi. Hiện nay, An Vinh vẫn còn một số lò võ thu hút nhiều môn sinh theo học, trong đó nổi tiếng nhất là lò của lão võ sư Trần Dần.
Tour “chuyên đề” võ sẽ thiếu sót nếu không ghé thăm võ sư Phan Thọ, 82 tuổi, ở thôn 2, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, người tinh thông cả 18 ban võ Tây Sơn và có thể được xem như một kỳ lão trong làng võ Bình Định. Không được may mắn như những đồng môn khác, mãi đến năm 17 tuổi ông mới bắt đầu học võ.
Học chưa hết bí kíp của thầy này thì thầy mất, ông phải đến thọ giáo thầy khác. Cứ như vậy đến năm 35 tuổi ông vẫn còn đi học. Sự tinh thông cả 18 ban võ nghệ Tây Sơn nơi ông là kết quả của 18 năm học võ đầy khổ luyện. Đến thăm, bạn còn được xem đứa cháu ngoại 15 tuổi của ông biểu diễn “Hùng kê quyền”, bài võ nổi tiếng mô phỏng theo thế đánh của gà do Nguyễn Lữ sáng tạo.
Bình Định hiện còn khoảng 15 lão võ sư như Phan Thọ, những người được coi là “báu vật sống” về võ thuật. Như võ sư Trương Văn Vịnh, 72 tuổi, chưởng môn võ đường Phi Long Vịnh ở thôn Kỳ Sơn, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, người đánh có “thần” nhất bài quyền “Ngọc trản thần công” được cho là do Quang Trung sáng tạo và là bài nằm lòng của tất cả võ sinh ở các võ đường Bình Định; hay võ sư Lý Xuân Hỷ, 66 tuổi, ở thôn Tây Phương Danh, Đập Đá, huyện An Nhơn, người “thủ đắc” tuyệt kỹ của họ Lý là bài quyền “Miêu tẩy diện” (mèo rửa mặt) mô phỏng theo thế đánh nhu nhuyễn, linh hoạt của mèo...
Tháng tám về sông Kôn để sống lại với một thời không thể nào quên trong lịch sử của miền đất võ.
. Theo TTO
Nơi trao truyền niềm say mê và tinh thần thượng võ
Bình Định là một trong những cái nôi của nền võ học chân truyền Việt Nam. Ngoài các làng võ, những dòng họ võ cũng là biểu hiện sống động của truyền thống thẳm sâu của miền đất võ.
Một dòng họ võ “Tứ đại đồng đường”
Đó là họ Trương ở xã Phước Sơn (huyện Tuy Phước). Dòng họ này, hầu như chẳng ai là không biết võ, ngay như đàn bà con gái cũng được truyền cho vài thế võ gọi là để phòng thân. Còn lớp anh em võ sư Trương Cần (cha võ sư Trương Văn Vịnh, thường gọi là Phi Long Vịnh), đều thuộc hàng cao thủ. Một là Trương Xuân Ba, biệt danh là Sáu Hòa, từng ẵm cúp đồng đen Đông Dương, người nữa là Trương Hoàng, biệt hiệu Ba Chăm, một trong những người thầy của hùm xám miền Trung Hà Trọng Sơn. Hiện nay, những bí kíp của dòng họ Trương được truyền lại cho võ sư Trương Văn Vịnh, con trưởng của võ sư Trương Cần.
Lên 8 tuổi, Trương Văn Vịnh đã được cha trao truyền những đường quyền cơ bản. Được vài năm, ông lại được cha gửi đến thọ giáo hai người bác ruột. Theo học võ sư Trương Xuân Ba được mấy năm, Vịnh tiếp tục thọ giáo võ sư Ba Chăm. 10 tuổi, ông đã đi gọn bài Lão hổ thượng sơn và cả bài Tứ linh đao cực khó. Đường đao phủ kín bốn mặt, vùn vụt, bóng loáng, oai hùng. 18 tuổi ông đã bắt đầu thượng đài và cả thời trai trẻ của ông gắn liền với những trận so găng khắp Trung, Nam. Cái làm nên tên tuổi của võ đường Phi Long Vịnh danh trấn miền Trung chính là tuyệt chiêu “phi long”. Đòn này phải vừa đánh tới, lại vừa trả bài phóng hậu, rồi chân sau bay lên, dập luôn trên không, đánh phủ đầu vào bộ não. Võ sư nào cũng phải bái phục cái đòn bay thượng thặng ấy. Năm 1970, trong chương trình biểu diễn võ thuật và thi đấu với các võ sư khét tiếng trong và ngoài nước lúc bấy giờ, võ sư Vịnh đã thi triển đòn đánh trên không biến ảo này, nên người ta dùng tên đòn mà đặt cho môn phái của dòng họ ông là “Phi Long”.
Điều thú vị là mọi tinh túy của võ thuật cổ truyền mà võ sư Vịnh thọ giáo từ các bậc cha chú nay lại được ông trao truyền cho các con trai, rồi cháu nội mình. Trương Trọng Hải, người con trai thứ ba của ông, 50 lần thượng đài thì chỉ thắng hoặc hòa chứ chưa hề biết đến thất bại. Trương Trọng Hùng, người con trai thứ tám mới 32 tuổi cũng đã có hơn 40 lần thượng đài... Còn khi tôi đến thăm gia đình, đứa cháu ngoại của võ sư là Nguyễn Hoàng Vũ mới ở tuổi chơi, nhưng đã biểu diễn được những bài quyền khá đẹp mắt.
Tại làng võ An Thái, chúng tôi tìm đến lò võ của võ sư Lâm Ngọc Phú. Ông nội của võ sư đã là người học võ, đến ông thân là cụ Lâm Đình Thọ (tức Hương Kiểm Lài), đã kết hợp hai nguồn võ Tàu, võ ta và lấy tên là Bình Sơn (võ Bình Định- Tây Sơn). Tiếp nối võ sư Phú, những người con của ông là Lâm Ngọc Oanh, Lâm Ngọc Ánh cũng đã gặt hái những thành tích bước đầu trên con đường võ học. Ngay cả cháu nội, cháu ngoại mới hơn chục tuổi, cũng được ông học thêm về võ. “Tui chỉ dạy để truyền thống võ nghệ gia đình không mất, cũng là để rèn sức khỏe, hộ thân, còn chẳng đứa nào theo nghề võ cả”- ông nói.
Đến một truyền thống truyền thừa độc đáo
Dòng họ Trương với “tứ đại đồng đường”, dòng họ Lâm ở An Thái chính là những biểu hiện khá tiêu biểu của một truyền thống truyền thừa của võ cổ truyền Việt Nam: truyền thừa theo dòng họ. Truyền thống võ Việt Nam là không phân hóa sâu thành các môn phái như võ Tàu, mà đi vào chiều sâu văn hóa làng xã, hình thành nên các làng võ hoặc truyền thừa theo dòng họ. Bởi vậy, cùng với các làng võ, các dòng họ võ ở Bình Định cũng là một biểu hiện thú vị về truyền thống miền đất Võ.
Ngoài sự truyền dạy trực tiếp, trong các dòng họ võ, vẫn lưu giữ nhiều tài liệu võ quý giá. Đây là những bí kíp mà tiền nhân ghi lại để trao truyền cho lớp cháu con. Một trong những tài liệu đó là sách võ hiện đang được dòng tộc họ Trương (thôn Phú Thiện, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ) giữ gìn. Theo ông Trương Đức Hồng, người hiện đang lưu giữ cuốn sách võ này, thì ông tổ dòng họ Trương là Trương Đức Thường người xứ Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vào khai sơn phá thạch ở vùng núi Ngạch (nay thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ) vào đầu thế kỷ thứ XVII. Sau đó, đến định cư ở thôn Phú Thiện (xã Mỹ Hòa, Phù Mỹ). “Khi ấy, cả vùng đất quanh nơi này hãy còn là chốn rừng núi. Tổ tiên chúng tôi phải luyện tập võ nghệ để đương đầu với thú dữ và những hiểm nguy nơi vùng đất mới. Tôi nghĩ, đó là lý do mà tổ tiên chúng tôi biên chép và truyền tụng những thế võ trong cuốn sách này”- ông Hồng nói. Cũng theo ông Hồng, dòng họ Trương có nhiều người học giỏi, thi đỗ cử nhân võ. Như ông Trương Đức Giai, Trương Đức Lân, Trương Trạch... đều đỗ cử nhân võ. Trong đó, ông Trương Trạch chính là thầy dạy võ cho ông Trương Thanh Đăng, sau này làm chưởng môn phái Sa Long Cương (một trong những môn phái có ảnh hưởng lớn ở Nam Bộ), còn ông Giai chính là người biên soạn tập sách võ hiện vẫn còn lưu truyền trong dòng họ Trương.
Điều đáng quý nhất là trong tập sách võ này có lời thiệu bài quyền Ngọc trản, một bài quyền hội đủ các yếu tố có tính cơ bản và là một trong những bài mang tính chính thống, tiêu biểu của võ Bình Định. Bài quyền hiện vẫn được lưu truyền và phổ biến rộng rãi trong dân gian với luyện tập công phu, tấn công toàn diện, kết hợp cương nhu, lại có những thế né tránh, phản đòn lợi hại; khi di chuyển thì linh hoạt, nhẹ nhàng, nhưng khi ra đòn thì mạnh. Với việc phát hiện ra bài thiệu, các nhà nghiên cứu mới nhận thức được tính liên hoàn âm - dương xuyên suốt cả bài quyền và chỉnh lý được những sai lầm do việc lưu truyền tam sao thất bổn trước đây. Bài thiệu quyền Ngọc trản đích thực là một viên ngọc quý trong tập sách quý của họ Trương.
Nối tiếp những truyền thống
Cùng với các làng võ, những dòng họ võ là nơi lưu giữ những nét tinh chất của võ Bình Định. Điều đáng nói, từ trong những dòng họ ấy, tinh thần thượng võ cùng những giá trị nhân văn của võ học được người đi trước dạy người đi sau, tạo nên cái mà ngày nay chúng ta gọi là truyền thống. Ngay như bí kíp ở các dòng họ võ, theo võ sư Phi Long Vịnh, cũng chẳng có gì gọi là bí kíp. “Chiêu “phi long” chẳng hạn, nhiều võ đường khác cũng biết cả đấy, chỉ có điều họ không chuyên. Còn với người họ Trương thì đã luyện đòn này từ hồi còn để chỏm. Tuyệt kỹ hay không cũng là nhờ tập luyện bã cả người ra mà nên cả”- ông nói.
Các dòng họ võ đã góp phần bảo lưu truyền thống võ qua những thăng trầm lịch sử. Và từ hai, ba chục năm trở lại đây, khi các võ sư truyền dạy ra ngoài, võ Bình Định bắt đầu phát triển vượt ra khỏi phạm vi địa phương. Trên cả nước, có không ít địa phương có võ đường lấy tên Phi Long. Còn như môn phái Bình Định Gia đã tồn tại suốt 200 năm, trước vốn chỉ truyền trong dòng họ Trần Đại, Trần Hưng; sang đến chưởng môn đời thứ 5, cụ Trần Hưng Quang (hiện ở Hà Nội) mới bắt đầu truyền dạy ra ngoài. Đến nay, môn phái này đã có cả trăm HLV, hàng trăm võ đường trong nước cũng như ngoài nước với hơn mấy vạn lượt người luyện tập.
Tôi thường tự hào giới thiệu với bè bạn phương xa về các làng võ Bình Định như một trong những “thành trì” bảo lưu những gì tinh túy của truyền thống võ Bình Định. Nhưng rồi tiếp xúc với các dòng họ võ, tôi lại tự hào về các dòng họ võ, cái nôi trao truyền niềm say mê võ học và tinh thần thượng võ cho thế hệ cháu con.
Lê Viết Thọ
Liên hoan quốc tế võ cổ truyền tại
Việt Nam lần 1 năm 2006:
Lễ hội của tinh thần thượng võ
Hôm qua 4-8-06, tại TP.Quy Nhơn (Bình Định), Liên hoan võ cổ truyền Việt Nam
quốc tế lần thứ nhất đã chính thức khai hội. 54 đoàn võ thuật đến từ nhiều tỉnh, thành trong nước và nhiều quốc gia, vũng lãnh thổ trên thế giới với hơn 500 vận động viên đã cùng tề tựu về với “nguồn cội” của võ cổ truyền Việt Nam, vùng đất võ Bình Định để tưởng nhớ và vinh danh những tinh hoa của võ học Việt Nam.“Xúc động đến bàng hoàng”
“Tôi quá bàng hoàng và bất ngờ, không biết mình là tỉnh hay mơ nữa khi nhận được giấy mời của Ban tổ chức. Tôi xúc động đến nghẹt thở khi được trở về trên đất tổ của dòng võ mà mình đã theo từ năm lên 10”- lão võ sư Trần Tiến- chưởng môn Nội gia quốc tế võ đạo Việt Nam vừa đặt chân đến Quy Nhơn sau một chuyến bay dài từ Mỹ để về Việt Nam tham dự liên hoan tâm sự. Đó cũng là tâm sự của rất nhiều vị chưởng môn, nhiều võ sĩ từ khắp nơi về tham dự. Mỗi môn phái một tên gọi, một quốc gia, một địa phương nhưng điểm giống nhau ở họ là môn võ mà mình được theo học, dành trọn đời cho niềm đam mê võ học có chung một nguồn cội là võ học cổ truyền Việt Nam. Dẫu thời gian biến chuyển, khoảng cách địa lý và những biến đổi lớn theo thời cuộc cũng ảnh hưởng đến chính những môn phái võ để phù hợp với hoàn cảnh sống nhưng tinh thần chung của võ học cổ truyền VN vẫn được gìn giữ và phát huy từ thế hệ này đến thế hệ khác trong các môn phái.
Dọc theo những tuyến đường của phố biển Quy Nhơn rất nhiều cờ hoa, băng rôn, biểu ngữ được trang hoàng khắp nơi. Những hình ảnh về đường roi, ngọn kiếm... được đặt tại những ngã tư, cổng chào của thành phố như làm sục sôi thêm tinh thần thượng võ ngay tại vùng đất võ. Đây cũng là lần đầu tiên, một liên hoan mang tầm quốc tế được tổ chức tại đây nên công tác tổ chức được chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Thành phố Qui Nhơn như được “khoác áo mới” với hàng ngàn cây xanh được quét vôi, bờ biển được dọn dẹp sạch đẹp, trật tự an toàn giao thông được bảo đảm... để lưu lại hình ảnh đẹp nhất về Quy Nhơn đối với du khách.
Quảng bá hình ảnh vùng đất võ
Chiều ngày 4-8-06, tại quảng trường 31 -3, tất cả các đoàn võ thuật về dự liên hoan đã cùng nhau hành hương về đất võ Tây Sơn để dâng hương, dâng hoa lên tượng đài vua Quang Trung - người được xem là vị học trò kiệt xuất của võ học cổ truyền Việt Nam. Tại đây cũng đã diễn ra buổi biểu diễn võ thuật và nhạc võ Tây Sơn. Có lẽ chưa bao giờ người dân ngay tại đất võ lại được chứng kiến những anh chàng “Tây” mắt xanh da trắng và cao lênh khênh đến từ Mỹ, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ... gần gũi trong những bộ võ phục đen truyền thống của võ cổ truyền, nghiêng mình kính cẩn thắp nhang và vái lạy trước bàn thờ Hoàng đế Quang Trung và các vị võ tướng của Tây Sơn. Màn trình diễn trống trận, nhạc võ và các bài võ đậm chất cổ truyền của đội võ sĩ Bảo tàng Tây Sơn đã khiến những “đệ tử ngoại quốc” không khỏi trầm trồ thán phục và luôn miệng suýt xoa. Những thế võ đẹp mắt, những âm thanh thúc giục, hùng hồn của dàn trống trận Tây Sơn dường như đang gợi mở lại một quá khứ oai hùng của đất võ từ ngàn xưa hiện về.
Lễ khai mạc Liên hoan đã diễn ra vào
tối qua tại sân vận động Qui Nhơn với sức chứa 28.000 khán
giả. Kịch bản của lễ khai mạc ngắn gọn nhưng mang nhiều ý nghĩa biểu trưng về
chủ đề: Việt N
Du khách có dịp ngạc nhiên trước sự
nhuần nhuyễn và đầy sức mạnh của các bài quyền huyền thoại như
Roi Thái Sơn, Hùng kê quyền... Đặc biệt, bài Hùng Kê quyền (bài võ tương
truyền của Nguyễn Lữ nằm trong hệ thống bài quyền thi đấu của võ cổ truyền Việt
Liên hoan sẽ diễn ra đến ngày 7-8
với các hoạt động trình diễn võ thuật, giao lưu giữa các đoàn, tham quan du lịch
và tổ chức các buổi gặp gỡ, nói chuyện về võ học Việt Nam, hội thảo quốc tế về
sự bảo tồn và phát triển của võ cổ truyền Việt Nam trong thời đại mới, đặc biệt
là việc phát huy ở nước ngoài. Đây cũng là dịp để Bình Định giới thiệu hình ảnh
của tỉnh nhà đến bạn bè quốc tế và chính các “đệ tử” của võ học Việt
Nhật Lâm
Màn trình diễn trống trận, nhạc võ và các bài võ đậm chất cổ truyền của đội võ sĩ Bảo tàng Tây Sơn đã khiến những “tráng sĩ đạo” - những môn đồ ngoại quốc của võ cổ truyền VN không khỏi trầm trồ thán phục. Những thế võ đẹp mắt, những âm thanh thúc giục, hùng hồn của dàn trống trận Tây Sơn dường như đang gợi mở lại một quá khứ oai hùng của đất võ từ ngàn xưa hiện về.
|
|
Màn trình diễn Song đao của nữ võ sĩ Bảo tàng Quang Trung chào mừng các đoàn võ thuật |
Võ sư Nguyễn Thị Thuận trình diễn màn trống trận Tây Sơn đầy oai phong khí phách |
Đại hội võ lâm thuần Việt
TP - Trên 600 võ sĩ và võ sư từ gần trăm môn phái võ cổ truyền VN đã quần tụ mở “đại hội võ lâm” lần đầu tiên mang tên Liên hoan quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam tại đất võ Bình Định (từ 4 - 7/8).
|
Chưởng môn Hồ Hoa Huệ |
Đặc biệt trong số đó có gần 300 người con đất Việt xa quê và người nước ngoài thuộc 36 đoàn đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ đang khoác trên mình bộ võ phục Việt Nam.
Trăm suối đổ về
“Người đàn bà Vàng” theo bầu chọn của tạp chí võ thuật Pháp năm 2000 Hồ Hoa Huệ đã 62 tuổi nhưng đến nay vẫn là đương kim vô địch kỹ thuật hạng tuổi 50-60 võ cổ truyền Việt Nam suốt 4 năm liền từ 1996 đến 1999. Bà chính là người sáng lập ra môn phái Tinh Võ Đạo và là nữ chưởng môn hiếm hoi trong làng võ cổ truyền Việt Nam. Quê gốc Bình Định, sớm mồ côi cha cộng với cảnh nhà sa sút khiến tuổi thơ của bà phải lang bạt nhiều nơi. Nhưng cái gen “Con gái Bình Định cầm roi đi quyền” trong cô bé Nguyễn Thị Kim Xoa - tên thật của bà - đã sớm trỗi dậy từ tuổi lên mười với những bài quyền thọ giáo từ ông nội. Thượng đài thi đấu từ 16 tuổi, đến 30 tuổi bà đã là chủ một võ đường ở Tiền Giang quê ngoại. Đến năm 41 tuổi, bà mở lò võ ở Sài Gòn và lập ra môn phái Tinh Võ Đạo.
Trên nền tảng võ thuật cổ truyền, nữ võ sư đã sáng tạo ra một môn phái mạnh về quyền thuật và binh khí với những đòn thế mang tính chiến đấu đối luyện vừa đẹp mắt lại độc hiểm cùng với trên 30 bài quyền tay không và 18 môn binh khí riêng của môn phái. Đây là kết quả của sự dầy công nghiên cứu, kết tụ nền tinh hoa võ thuật hàng ngàn năm của nước nhà. Nữ chưởng môn Hồ Hoa Huệ cũng đã từng lừng danh là một trong rất hiếm nữ võ sư Việt Nam trong nhiều năm liền “quảy gánh” đi sang Pháp, và 15 nước châu Âu và cả châu Phi để truyền dạy môn võ cổ truyền độc đáo này. Giọng nói nhanh mạnh dứt khoát của nhà võ cộng với gương mặt toát lên vẻ đẹp phúc hậu Á Đông, nữ võ sư Hồ Hoa Huệ cho biết, đến nay môn sinh Tinh Võ Đạo trên thế giới lên đến khoảng 5.000 người, riêng tại Pháp đã có tới 1.200 môn sinh.
Hôm nay bà đang cùng 150 môn sinh đến từ TP. HCM và các nước Đức, Pháp, Nga, Anh, Mỹ, Thuỵ Sĩ bước vào ngày hội võ tại Bình Định. Học trò của bà, võ sư Maitre Lasjunies Vivian – chưởng môn Tinh Võ Đạo tại Pháp được bà yêu quý đặt cho cái tên Việt là Hồ Thiên Long cũng vừa dẫn 25 học trò về dự. “ở Pháp tôi có 10 võ đường với 940 võ sinh.
Lần đầu tiên đặt chân tới đất võ Bình Định, nhưng từ lâu qua Tinh Võ Đạo và võ sư Huệ, tôi đã yêu mảnh đất này và tưởng như đang về nguồn cội” – Maitre nói rành rọt bằng tiếng Việt.
Có cùng suy nghĩ, võ sư Lê Thanh Minh – HLV trưởng Tinh Võ Đạo tại Anh quốc, chủ một võ đường tại Western - bày tỏ nguyện vọng đây là dịp để gặp gỡ và mời các võ sư Việt Nam sang Anh để mở một trường Tinh Võ Đạo. ấn tượng là đoàn Tinh Võ Đạo đến từ Nga với 100 võ sinh, từ Mỹ với 40 võ sinh...
Tinh Võ Đạo chỉ là một trong hàng trăm dòng suối nhỏ đổ về lòng sông lớn võ đạo dân tộc. Lần đầu tiên các hệ phái võ cổ truyền Việt Nam làm cuộc hành hương trọn vẹn và đông đủ nhất về nguồn cội của mình.
Từ Việt Võ Đạo quá quen thuộc trên thế giới, Quán Khí Đạo có mặt tại 30 quốc gia trên thế giới rồi đến Bình Định - Sa Long Cương, Cửu Long Võ Đạo ở Pháp, Marốc; Song Long Khiên Đường, Long Hải Võ Đạo, Kiến An Kungfu...,
Cùng với sự có mặt của “chủ soái” các tổ chức võ thuật vốn lừng lẫy khắp nơi, như Tổng hội Phát triển Võ thuật Thế giới, Tráng Sĩ Đạo Việt Nam, Nội gia Quốc tế Võ đạo Việt Nam, Tổng đoàn Thế giới Quán Khí Đạo, Tổng đoàn Việt Võ Đạo, Tinh Hoa Võ Việt Quốc Tế… Tất cả hoà chung vào dòng chủ lưu các môn phái trên chính quê nhà, mà nổi bật là võ Bình Định.
Lễ khai mạc hoành tráng đêm 4/8 với những gì mà chủ nhà phô diễn như Lôi long đao, Thái sơn côn, Hùng kê quyền, Song phượng kiếm, Roi không tiên... thuộc bộ võ đặc sắc của nhà Tây Sơn truyền lại đã khiến các đại cao thủ đều phải ngỡ ngàng thán phục. Thu phục họ không gì khác ngoài khí phách và thần thái của dân tộc.
Võ sư Lý Hoàng Tùng - Chủ tịch Tổng hội Phát triển Võ thuật Thế giới bày tỏ: “Cây có cội, nước có nguồn, đất trời có xa nhưng lòng chúng tôi luôn hướng về quê mẹ.
Mặc dù chúng tôi được gọi là “Tổng hội Phát triển Võ thuật Thế giới”, nhưng tựu trung vấn đề là hội tụ những người Việt Nam yêu võ thuật, yêu quê hương, trong đó võ cổ truyền được đặc biệt quan tâm và phát triển”.
Lão võ sư Trần Tiến - Chưởng môn Nội gia Quốc tế Võ đạo Việt Nam không nén nổi xúc động: “Tôi năm nay đã 95 tuổi, học võ từ năm lên mười. 85 năm sống với nghiệp võ, nhưng chưa bao giờ được nghe, được dự một giải hay như lần này. Tôi thật sự bàng hoàng khi nhận được giấy mời của BTC, tay chân run lẩy bẩy vì quá xúc động. Từ đây cho tôi thêm một niềm tin, đó là đất nước chúng ta sẽ có Quốc võ, sẽ có Tổ võ”.
Võ sư Gasdibbi (Pháp) - Chủ tịch Tổng đoàn Thế giới Quán Khí Đạo tâm sự: “Đất nước chúng tôi có rất nhiều môn võ, môn nào cũng thu hút người học. Nhưng có một môn võ không những hấp dẫn về kỹ thuật tự vệ và chiến đấu, mà còn cuốn hút chúng tôi, con em chúng tôi vào con đường Võ Đạo.
Đó chính là võ cổ truyền Việt Nam, một môn võ được hình thành trong hơn 4.000 năm đánh giặc giữ nước. Một môn võ đang có hồn thiêng của dân tộc và đạo lý làm người.
Toàn bích võ - văn
Võ cổ truyền Việt Nam vốn là “võ trận”, xuất phát từ lịch sử đấu tranh đầy thăng trầm bền bỉ của dân tộc. Nhưng sang thế kỷ 21, thời đại của hội nhập, võ cổ truyền giờ đã trở thành ngôn ngữ của văn hoá, hoà bình.
“Đại hội võ lâm” thuần Việt lần này cho thấy những hình ảnh thật đẹp, khác với những gì người ta hay nghĩ về nghề võ. Những võ sĩ, võ sư can trường đầy mình đẳng cấp đến từ năm châu bốn bể phần lớn lại là những trí thức. Võ sư Lê Thanh Minh của phái Tinh Võ Đạo đang theo học cao học kinh tế tại Anh quốc.
Cô con gái út của võ sư chưởng môn Hồ Hoa Huệ - nữ diễn viên xinh đẹp Trần Gia Linh vừa đạt chuẩn võ sư, cũng vừa lấy bằng đại học Luật ở Đức. Cô gái xinh đẹp Lynelle Miliate của môn phái Kiến An Kungfu đến từ California (Mỹ) dày công lão luyện với những bài Độc long côn, Âm dương nhật nguyệt, Tứ môn thái cực chưởng hiện đang học... cao học văn chương.
Chủ tịch Liên đoàn Việt Võ Đạo quốc tế là võ sư lừng danh Phan Hoàng, cũng chính là tiến sĩ xã hội học. Một trong những học trò của ông, võ sư Patrick Levet (Pháp) là thạc sĩ ngôn ngữ biết rành rõi 7 thứ tiếng, từng hơn 30 lần qua Việt Nam để nghiên cứu đào luyện môn võ này.
Một điều thú vị, nữ chưởng môn Tinh Võ Đạo Hồ Hoa Huệ cũng chính là soạn giả của hơn 200 bài... vọng cổ nổi tiếng! Bởi vậy, những ngày diễn ra đại hội võ lâm cũng chính là dịp để các cao thủ năm châu tìm hiểu nền tảng văn hoá và đời sống tinh thần của những người con đất võ.
Đó là những cuộc hành hương về quê hương Anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ, người khai sinh ra môn võ Tây Sơn, thăm Bảo tàng Quang Trung và những lò võ nổi tiếng như An Thái, An Vinh (huyện An Nhơn), Thuận Truyền (Tây Sơn)...
Một hội thảo chuyên nghiệp nhằm tìm tiếng nói thống nhất và tụ hội sức mạnh của võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện vẫn còn khá tản mát trên thế giới cũng là tâm điểm thu hút sự chú ý trong dịp này. Dự tính, từ lần mở màn thành công này, trên đất võ Bình Định cứ 2 năm một lần sẽ có Festival võ cổ truyền.
Trí Quân – Viết Hiền
Một vài hình ảnh về Liên hoan quốc tế võ cổ truyền Việt Nam lần thứ I - 2006 (4-7 /8/06)
Về dự liên hoan có 500 VĐV đến từ 35
đoàn quốc tế và 21 đoàn thuộc các tỉnh, thành trong cả nước. Lần đầu tiên các
môn phái võ Việt
Trống mừng khai hội võ.
Nữ võ sư Hồ Hoa Huệ (người cầm cờ
lưu niệm màu vàng) và đoàn Tráng sĩ đạo Việt
Võ sư Huỳnh Thanh Phong (HLV Trưởng môn phái Kiến An quốc tế thuộc Tổng hội phát triển võ thuật thế giới - Hoa Kỳ) biểu diễn công phá đòn tay tại Nhà thi đấu Quy Nhơn.
Một dự định dài hơi hơn về việc nâng tầm võ cổ truyền trở thành quốc võ, thành một môn võ thi đấu trên trường quốc tế là điều trăn trở và mong muốn của hàng triệu người hâm mộ. Với sự tham gia của nhiều đại biểu trong và ngoài nước tại Hội thảo về võ cổ truyền Việt Nam trong khuôn khổ Liên hoan - cuộc gặp gỡ lần này được ví như một “Hội nghị Diên Hồng” nhằm tập hợp những tâm tư, đưa ra những đề xuất, những ý kiến hay, nhằm xây dựng một lộ trình phát triển môn võ cổ truyền Việt Nam”.
Đoàn Võ Thuật Cổ Truyền Bình Định tham dự giải VTCT ĐH TDTT toàn quốc lần thứ V- 2006
(BĐ) - Sáng ngày 14-8, đoàn Võ thuật cổ truyền (VTCT) Bình Định đã lên đường vào Bình Thuận tham dự Giải VTCT Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ V-2006.
Ông Trần Duy Linh - HLV trưởng nội dung hội diễn VTCT tỉnh Bình Định, cho biết: “Tất cả các thành viên trong đoàn đều khỏe mạnh và sẵn sàng cho ngày khai mạc (20-8). Đây là giải đấu khó khăn, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để giành được kết quả tốt nhất. Việc tham dự Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần I-2006 vừa qua cũng đã giúp các vận động viên tự tin thêm rất nhiều trong nội dung hội diễn”.
Được biết, đoàn VTCT Bình Định đến tham dự Đại hội lần này gồm 27 thành viên, trong đó có 10 vận động viên tham gia thi đấu ở nội dung hội diễn do HLV Trần Duy Linh dẫn dắt và 12 vận động viên thi đấu nội dung đối kháng do HLV Bùi Trung Hiếu dẫn dắt.
Một võ sư Việt kiều ước mơ đem nhạc võ Tây Sơn "xuất ngoại"
Gặp lại võ sư Hồ Bửu (Giám đốc Võ đường Tây Sơn - Bình Định tại Virginia - Mỹ) sau khi Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ I kết thúc gần một tháng trời. Hóa ra, võ sư đã dành hẳn cả tháng trời lang thang và chuẩn bị cho một dự định dài hơi: "xuất ngoại" nhạc võ Tây Sơn.
I. Truyền bá võ Tây Sơn trên đất Mỹ
Võ sư Hồ Bửu có may mắn là học trò giỏi của hai võ sư vào hàng bậc thầy của giới võ thuật Bình Định thế kỷ trước: Diệp Bảo Sanh (chưởng môn nhân đời thứ hai của Bình Thái Đạo) và Hồ Nhu (tức võ sư Hồ Ngạnh với bài roi nổi tiếng). Đây cũng là hai võ sư tiêu biểu của hai làng võ nổi tiếng của Bình Định: Thuận Truyền (Tây Sơn) và An Thái (An Nhơn).
Sinh năm 1942 tại Quy Nhơn. 5 tuổi, Hồ Bửu bắt đầu học võ với người cha, một người như bao người Bình Định khác, cũng biết chút ít võ nghệ để hộ thân. Lên 10 tuổi, ông bắt đầu theo thầy Diệp Bảo Sanh học võ; rồi sau đó, lại có một thời gian vừa theo học Nhu đạo ở Sài Gòn vừa dạy võ. Năm 1968, về quê, ông lại theo học võ sư Hồ Nhu cho mãi đến năm 1974.
"Ngày tôi học Nhu đạo, rồi học võ của thầy Hồ Nhu, tôi đều hỏi ý kiến thầy Diệp Bảo Sanh. Thầy bảo: không sao, con cứ học để biết cái sở trường, sở đoản của mình và các môn võ khác. Tìm đến gặp thầy Hồ Nhu tại Phú Phong, khi ấy thầy không thâu nhận học trò mà chỉ dạy cho con cháu trong nhà là chính, tôi cũng thú thật với thầy vậy. Thầy chỉ cười và bảo: "Con đi thử một bài cho thầy xem". Có lẽ, thấy tôi đàng hoàng, biểu diễn có đường nét, thầy thâu nhận. Được học võ với hai người thầy như vậy, tôi tự cho mình có cái duyên với nghiệp võ vậy".
Có lẽ, bởi được học từ hai người thầy tiêu biểu của hai làng võ, mà sau này qua Mỹ, mở võ đường, võ sư Hồ Nhu lấy tên võ đường mình là Tây Sơn - Bình Định, một cách gọi chung các dòng võ Việt, Hoa và Việt - Hoa giao thoa từ thế kỷ trước mà ông được tiếp nhận từ cả hai người thầy. Hỏi: "Sao ông không lập võ phái riêng, tổng hợp tinh hoa của các thầy, để có thể xưng danh là chưởng môn?", võ sư Hồ Bửu cười: "Võ là di sản mà ông cha để lại, còn tôi chỉ là người lưu giữ. Tôi không phải là chưởng môn. Tất nhiên, khi dạy học trò, tôi cũng cố gắng tổng hợp tinh hoa cả hai dòng võ lại thành hệ thống. Điều thú vị là cả hai dòng võ này không hề chõi nhau chút nào cả mà lại có phần bổ sung cho nhau".
Học trò đầu tiên mà võ sư Hồ Bửu thâu nhận trên đất Mỹ lại là hai người Mỹ, một người có… 3 đẳng Taekwondo, người kia ngoài 3 đẳng Taekwondo ra còn có thêm 5 năm học võ Tàu. Chẳng là một lần, hai võ sinh người Mỹ to con, vóc dáng lừng lững này thử sức với võ sư người Việt Nam nom thấp bé, nhẹ cân này. Vậy mà hôm sau, tay của hai võ sinh Mỹ tê rần, đỏ lên. Vậy là họ theo võ sư Hồ Bửu học võ Tây Sơn từ đó. Đến nay, sau hơn ba chục năm, võ đường Tây Sơn - Bình Định đã đào tạo tới cả ngàn học trò, trong đó, 200 võ sinh đã được lên đai đen. Khác với các võ đường môn phái khác, thường chỉ học hơn 2 năm là được lên đai đen, với võ đường Tây Sơn - Bình Định để lên tới đai đen phải mất cả 4 năm theo học. Riêng với những võ sinh là người gốc Việt Nam, võ sư Hồ Bửu còn quy định thêm: phải biết đọc và nói… tiếng Việt. Khó là vậy, mà võ đường này vẫn không vắng người theo học.
II. Và dự định "xuất ngoại" nhạc võ Tây Sơn
Lại là một cái duyên khác, khi một lần, biểu diễn võ ở Sài Gòn, võ sư Hồ Bửu được gặp võ sư Đoàn Phong - một trong những danh thủ của võ Bình Định đương thời. Thấy Hồ Bửu giỏi võ, võ sư Đoàn Phong hướng dẫn cho ông đánh nhạc võ Tây Sơn theo cách của con nhà võ: tức bằng tay, chân và các thế võ. Sau này, võ sư Hồ Bửu lại được học thêm về nhạc với nhạc sĩ Dương Minh Ninh. Học để hiểu và càng thêm yêu nhạc võ.
Từ ngày sang Mỹ, võ sư Hồ Bửu đã ấp ủ dự định đưa nhạc võ Tây Sơn biểu diễn trên đất Mỹ trong những ngày kỷ niệm thánh tổ võ Quang Trung mùng 5 tháng giêng hàng năm do võ đường tổ chức. Tuy nhiên, nếu cứ máy móc đưa nguyên dàn trống trận Tây Sơn như tại Bảo tàng Quang Trung hiện nay với bốn trống lớn, 4 trống nhỡ và 4 trống nhỏ, cỡ từ 20 đến 40 phân lên sân khấu lớn thì không mấy ấn tượng về tính hoành tráng trong mắt người Mỹ. Đồng thời, dàn trống này nhỏ nên chỉ có thể dùng roi biểu diễn chứ nếu dùng tay, chân và các thế võ thì lại không phù hợp. Võ sư Hồ Bửu nói: "Tôi muốn giữ gìn nét văn hóa truyền thống độc đáo này, nhưng là giữ lấy cái hồn. Còn thì có thể cải tiến đi cho phù hợp với điều kiện sân khấu và khán giả bên đó. Bởi vậy, thay vì bộ 12 trống nhỏ, tôi dùng 12 chiếc trống cỡ trống chầu. Bên cạnh đó, do mỗi võ sinh ở một thời điểm, ra một thế võ, cùng lắm cũng chỉ có thể đánh vào ba chiếc trống, nên tôi bố trí 4 người cùng đánh một lúc nhằm tạo ấn tượng về sự mạnh mẽ, hoành tráng. Bài nhạc vẫn được tuân thủ, nhưng cũng phải tạo ra những khoảng lặng, lúc khoan, lúc nhặt phù hợp, nhằm tạo nhiều dư âm trong thính giả".
Để có 12 chiếc trống này, võ sư Hồ Bửu phải về Việt Nam, tìm đặt ở làng trống sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn ngũ âm Việt Nam. 12 chiếc trống nay đã hoàn thành và lần này sang Mỹ, ông Bửu bắt đầu cho những võ sinh mang đai đen trở lên luyện trống. Bên cạnh đó, ông lại cất công tìm nhạc bổ trợ cho trống. Dàn nhạc ở Bảo tàng Quang Trung (Tây Sơn) có kèn xôna, não bạt, sênh tiền, mõ, và gần đây bổ sung chuông, trống chầu, còn võ sư Hồ Bửu dự định dùng nhạc nền chính là nhạc Tuồng Bình Định. "Lúc đầu, tôi định nhờ nhạc sĩ Bảo Phúc (TP. Saigon) viết nhạc nền, nhưng sau lại nghĩ nếu đưa âm nhạc hiện đại vào sợ sẽ "chõi" nên tôi quyết định chọn nhạc Tuồng Bình Định làm nhạc nền"- võ sư Hồ Bửu giải thích.
Theo dự kiến, năm 2008, nhạc võ Tây Sơn sẽ chính thức được võ đường Tây Sơn - Bình Định đem lên sân khấu biểu diễn cùng với các bài võ mang tinh chất võ Tây Sơn - Bình Định và một số hoạt cảnh lịch sử Việt Nam trước những người Mỹ và người Việt Nam tại Mỹ. "Công việc còn nhiều, cũng không dễ, nhưng nếu làm được thì sẽ rất thu hút người xem và cũng là cách giới thiệu truyền thống dân tộc mình cho lớp trẻ người Việt ở Mỹ và những người Mỹ"- võ sư Hồ Bửu tâm sự.
Lê Viết Thọ
Không biết từ bao giờ, một đoạn sông chảy qua thôn Cửu Lợi Bắc, xã Tam Quan Nam (huyện Hoài Nhơn), được người dân trong vùng gọi là sông Võ. Có lẽ, tên gọi của nó gắn với truyền thống thượng võ của người dân nơi này. Và đến bây giờ, lão võ sư Huỳnh Lào (năm nay 77 tuổi) là một trong những người nối tiếp truyền thống đó.
Tìm đến nhà võ sư Huỳnh Lào lúc xế chiều, giữa khi ông đang cùng những người bạn già chú tâm vào bàn cờ tướng. Nhân nói chuyện cờ tướng, lão võ sư nói với vẻ đầy chiêm nghiệm: “Thực ra, những bộ phận trên con người mình cũng có các chức năng như những quân cờ. Hai nắm đấm như 2 quân pháo, có thể đánh vòng, hai cẳng tay như 2 quân sĩ, luôn sẵn sàng chống đỡ khi tướng lâm nguy…”. Rồi ông liên tưởng: “Hai tay như 2 cánh quân, nếu mất một cánh thì coi như thua. Vì vậy, khi xung trận cần phải phòng thủ chặt chẽ và luôn hỗ trợ nhau để duy trì được các thế đánh một cách mạnh mẽ nhất…”.
Bắt đầu học võ từ năm 18 tuổi, sự may mắn và niềm đam mê võ thuật đã đưa ông đến tầm sư học đạo với nhiều võ sư nổi tiếng trong vùng như võ sư Mười Nhỏ, Sáu Lai… Rồi ông còn tìm học thêm những võ sư tên tuổi ở các địa phương khác như võ sư Hồng Sách Kim (ở Vũng Tàu), võ sư Huỳnh Thạch Công (ở Phú Yên). Với mong muốn truyền thụ những tinh hoa của võ cổ truyền Việt Nam đến các thế hệ tiếp sau, từ năm 1970, ông bắt đầu mở lớp dạy võ ở Phan Thiết. Sau ngày đất nước thống nhất, ông về huấn luyện cho đội du kích xã Tam Quan Nam, rồi bắt đầu đào tạo những vận động viên cho huyện đi thi đấu các giải trong tỉnh. Các học trò của võ sư Huỳnh Lào như Tám Luyến, Nguyễn Văn Gia, Huỳnh Thanh Tồn… từng đem vinh quang về cho huyện Hoài Nhơn sau thành công ở nhiều giải đấu.
Nay thì với khoảng sân rộng trước nhà, ngày ngày võ sư Huỳnh Lào vẫn tiếp tục dạy võ cho lớp thanh thiếu niên trong vùng và lấy tên võ đường là Huỳnh Thạch Đại (theo họ một người thầy của ông). Trong truyền thụ cho học trò, ông đặt việc truyền dạy cái đạo của con nhà võ lên hàng đầu, bởi theo ông, “có tài mà không có đức thì chỉ làm hại cho đất nước”. Do vậy, bên cạnh việc truyền thụ những bài quyền, thế đánh và cách sử dụng các loại binh khí, võ sư Huỳnh Lào thường xuyên nhắc nhở các học trò về lối sống khiêm nhường, biết áp dụng những gì đã học đúng nơi, đúng chỗ; tuyệt đối không được khoe khoang, ỷ mạnh hiếp yếu… Lão võ sư cho biết: “Cứ mùng 10 hàng tháng, tôi lại kiểm tra học trò về cái đạo của con nhà võ, để sau này khi đã trưởng thành, các môn sinh luôn nhớ đến những gì thầy đã dạy và trở thành một người tốt. Học võ không thể trong ngày một ngày hai mà giỏi ngay được, bây giờ những kiến thức văn hóa rất cần thiết cho lớp trẻ, nên tôi vẫn nhắc nhở các cháu phải chú tâm vào học hành chứ đừng vì mê võ mà bỏ học”.
Với gần 50 năm gắn bó với võ thuật, võ sư Huỳnh Lào đã có những đóng góp đáng kể trong việc giữ gìn và phát huy vốn quý của võ cổ truyền Việt Nam. Hy vọng trong những năm tới, các thế hệ học trò của ông sẽ tiếp tục đem về những thành công và giành được những thứ hạng cao tại các giải đấu trong phạm vi toàn quốc, làm rạng danh cho tinh thần thượng võ của con người Bình Định.
Vũ Lê