![]() ![]() ![]() ![]() |
||
Human Rights Watch Tác Phẩm của Hà Thúc Sinh ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Quyền Của Lửa ![]() July 01-1999 Liên lạc: ![]() Vietnam Human Rights Watch P.O. Box 578 Midway City, CA. 92655, USA |
![]() Thưa quý vị, Trước tiên tôi xin cám ơn ban tổ chức cuộc hội luận và những vị đã giúp tôi một cơ hội để được trình bày chút kinh nghiệm khiêm tốn về văn chương trong vị trí một người Việt Nam trong chiến tranh trước kia và trong lưu vong hiện tại. Tôi rất vinh dự được có dịp hiện diện ở đây hôm nay. Thưa quý vị, Có lẽ không quá lời nếu nói bất cứ ở đâu, bất cứ thời nào, nhà văn là người sinh ra để được ái mộ. Sự ái mộ nhà văn được người ái mộ bày tỏ qua nhiều cách khác nhau. Và tôi là một trong số những người ái mộ ấy. Cứ hễ nhắc đến nhân cách một nhà văn là tôi lại tin người ấy phải là người luôn đứng về phía thiện chống phía ác; hơn thế, tôi thấy các nhà văn thường có mặt trong những người tiên phong chống kẻ thù chung của dân tộc. Nói cách khác, nhà văn không thể làm tay sai cho kẻ áp bức, mà là kẻ bênh vực kẻ bị áp bức. Nhưng điều gì xây nên một niềm tin như thế trong tôi? Rất có thể nó bắt nguồn từ vài câu danh ngôn như của Napoleon, “Một ngòi bút mạnh hơn ba sư đoàn,” hoặc của William Cobbett, “Với chế độ độc tài không có kẻ thù nào đáng ngại cho bằng ngòi bút” mà tôi đọc đâu đó trên một tờ báo. Vào thời đó, thẳng thắn mà nói tôi còn quá non để đoỉc được Henry David Thoreau hay Albert Camus. Quãng ba mươi năm trước, một ngày tôi thấy bóng dáng một nhà văn đi vào giấc mơ tôi. Nhưng nghề viết của tôi khởi đi một cách chập chờn. Trên đường lắm lúc tôi dừng chân và tự hỏi nhiều câu liên quan tới sự chọn nghề. Tôi sẽ nói quý vị nghe lý do. Thế hệ tôi ở Việt Nam các học sinh trung học đều phải học vài bài thơ của Tự Ðức, một ông vua nổi tiếng của triều Nguyễn và làm vua vào hậu bán thế kỷ 19. Dân chúng xem ông là một ông vua trí thức vì tác phẩm và cũng vì những sinh hoạt yểm trợ, phát triển văn học của ông vào thời ấy. Thời gian trôi qua, thơ ông có thể tôi không còn thuộc, nhưng một trong những dụ ngôn của ông thì tôi vẫn nhớ. Ông bảo, “Lập thân tối hạ thị văn chương.” Ông mâu thuẫn với ông chăng? Xin nhớ thời ấy nước tôi còn đang bị Pháp cai trị cách hà khắc, và nhiều nhà nho ái quốc vì chống Pháp đã bị án tử. Có thể nhà vua chỉ muốn nói rằng thanh niên nên lập thân lập danh cách thực tế và thực dụng hơn, chẳng hạn theo nghiệp võ khi đất nước đang cơn nguy biến. Ngụ ý của Tự Ðức làm tôi nghĩ ngợi. Có lần tôi tự hỏi: Có thể nào văn chương hoá ra rẻ mạt? Nó giúp người ta được gì trong việc giải quyết những trở ngại có thể gặp phải trong đời? Chẳng lẽ văn chương chỉ thuần một trò tiêu khiển? Câu phán của nhà vua xem ra làm hỏng nặng hình ảnh một nhà văn trong tôi ngày tôi ở tuổi mười tám đôi mươi. Tuy nhiên, sự nản lòng chưa dừng ở đó. Lắm lần nhiều nhà văn lão thành đã kể về cuộc đời họ, đa số tóm tắt với một nhấn mạnh tương tự: Nghề viết không đủ bốc bỏ mồm! Nguyễn Vỹ, một nhà thơ ở vào thế hệ cha tôi, trở thành nổi tiếng không hẳn nhờ thơ của ông, mà nhờ một câu cay đắng nói về nghề viết ông trải qua. Ông nói, “Nhà văn An Nam khổ như chó!” Dẫu sao, chuyện viết lách đã từ từ trở thành người bạn tâm tình của tôi ở ngưỡng cửa đại học. Tôi mê cô nàng. Tôi chia với cô nàng đam mê của đời tôi. Nhưng, tôi không bao giờ hoài vọng cô nàng sẽ là một chỗ tựa lớn trong đời tôi, cho đến một ngày... Lúc ấy là vào những năm giữa thập niên 60, khi cuộc chiến tranh Việt Nam leo thang. Ở đây quả tôi không muốn làm phí thì giờ của quý vị để than thở cho một miền đất tự do đã mất; hoặc để nhắc quý vị rằng dân nước tôi hiện đang lún sâu trong nghèo nàn và lạc hậu; hoặc để báo động với quý vị rằng một khi một đất nước đã bị lãnh đạo bởi những anh “chặt thịt,” thì sớm muộn gì dân nước ấy cũng biến thành một bầy bò khốn khổ, nếu như họ không có gan vùng lên để tự bảo vệ lấy nhân tính của họ. Những năm ấy thúc tôi viết và viết luôn đến bây giờ. Thưa quý vị, Người ta thể nghiệm một cuộc chiến bằng những cách khác nhau, nhưng một số người chia sẻ cái nhìn giống nhau. Sao lại gửi lính Mỹ sang Việt Nam? Lợi gì chăng cho cuộc chiến tranh tự vệ của miền Nam Việt Nam? Sao lính Bắc Việt lại bị xích chân vào ổ vũ khí nặng trong công sự chiến đấu? Hà Nội muốn gửi thông điệp gì cho thế giới văn minh qua những mồ chôn tập thể ở Huế? Nixon đã thảo luận gì với Mao ở Bắc Kinh? Họ đã bày một ván cờ khác? Ai đã bị chọn làm dê tế thần, Sài gòn hiến cho cộng sản, hay Hà nội hiến cho tư bản, hay cả nước Việt Nam rách bươm này sẽ phải hiến cho một tương lai khốn khổ dài vô tận? Những vấn nạn ấy quấy rầy tôi gần như từng ngày trong bữa cơm tối của một gia đình gồm ba thế hệ. Là bề dưới, tôi lặng lẽ ăn và không tìm đâu ra được những câu trả lời rõ ràng. Thời gian trôi qua với những tin buồn, sự đau thương và những đổ nát chồng chất. Tôi đã thấy, đã nghe, và đã rối trí. Tôi rơi vào sự khủng hoàng niềm tin. Tôi cảm thấy như bị hành hạ. Thần trí tôi đau nhức đến nỗi tôi mất tinh thần cả khi đã là một người lính chiến. Sau cùng, một ngày kia tôi đi đến một kết luận: Mọi điều thuận lý đều có thể thình lình biến thành vô lý trong thời chiến, kể cả chính nghĩa! Nhưng tôi còn đủ tỉnh táo để nhận ra rằng có gì trục trặc trong tôi rồi. Tôi tự hỏi: Làm cách nào mình thoát khỏi cái tình trạng thần trí bệnh hoạn này đây!? May thay, ngày kia có tiếng nói trong tôi cất lên. Nó bảo, “Viết đi, rồi bạn sẽ tự do!” Không lâu sau đó, bằng cách riêng, văn chương làm tôi phấn chấn và thúc tôi viết. Và đây là một lời thơ tôi viết thủa ấy: Ðất Nước Ðèn Lồng ![]() Thưa quý vị, Ngày nay tất cả chúng ta đều đã biết chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế nào. Miền Nam thua, nhưng nó xứng đáng kiêu hãnh, bởi một lần hoàn toàn một mình, nó đã tiếp tục can đảm chống lại toàn thể khối cộng sản quốc tế. Sự nhục nhã, nếu có, tất nhiên thuộc về những kẻ khác. Tôi là một trong hàng triệu tù nhân sau chiến tranh. Chẳng lời lẽ nào nói cho đủ được sự kinh hồn và cung cách tàn tệ kẻ thắng đã dùng để đối xử với chúng tôi. Sẽ không bao giờ có đủ thì giờ để kể quý vị nghe hết chuyện này bởi nó là câu chuyện rất lê thê. Quý vị từng thấy những chiến mã? Hãy tưởng tượng ra những chiến mã. Vâng, chúng tôi đã khổ nhục cả thể chất lẫn tinh thần trong thời gian tù tội cách khủng khiếp như con chiến mã phải đau đớn chui cho lọt qua cái lỗ kim. Tất nhiên trại lao động cộng sản không phải là những khách sạn Hilton, vì thế khổ nhục là chuyện không thể tránh khỏi. Ðiều đáng nói tới là bằng cách nào chúng tôi sống sót. Chúng tôi sống sót vì chúng tôi tin ở Chúa, chúng tôi giữ vững sự kiêu hãnh có chính nghĩa, và chúng tôi cười khi khổ nhục. Cá nhân tôi, tôi có thêm văn chương. Văn chương thực sự đã giữ cho tôi sống và tự do. Ðây là một lời thơ tôi viết trong trí nhớ thời còn trong tù: TỰ DO VÀ TÔIThưa quý vị, Giờ tôi sống lưu vong cũng do ý Trời. Nhưng lần này văn chương khuyến khích tôi viết nhiều hơn về sự thật, không gì hết ngoài sự thật. Có hai quyển sách phản ảnh một sự thật tôi muốn giới thiệu với quý vị, đó là quyển Hồ Sơ Ðỏ (2) và Tôn Giáo Ở Việt Nam Cộng Sản (3). Nói tóm tắt, những quyển sách này được ấn hành là kết quả đóng góp từ nỗ lực của nguyên một gia đình, cha con, anh chị em; nó chứa sự thật về những vi phạm nhân quyền ở Việtnam cộng sản suốt 50 năm qua. Hôm nay có sẵn một số bản ở đây, tôi mời quý vị mỗi vị một bản, coi như món quà của gia đình chúng tôi. Thưa quý vị, Tôi đã viết từ những năm đôi mươi. Tôi nhớ rõ rằng tôi đã chọn nghề này không vì tiền cũng chẳng vì danh. Có phải vì thế tôi đã không hề hối hận khi chọn nghề văn? Thẳng thắn mà nói tôi khó mà dính mãi với nó nếu đã không có được sự ủng hộ của độc giả; nhưng thẳng thắn hơn, ít nhất cho đến lúc này, chỉ văn chương là chưa bao giờ bỏ rơi tôi lần nào khi tôi gặp hoạn nạn. Nó theo tôi như một con chó trung thành và không quản gì đến chuyện thăng trầm của tôi dù có trầm trọng đến mức nào. Ðáng yêu hơn, nó luôn khuyến khích tôi viết những điều chân, thiện và mỹ. Ðó là lý do hôm nay tôi đến đây để ca ngợi nó với tất cả trái tim tôi. Xin cám ơn quý vị.
2. Nguyên bản tiếng Anh
“Red File: 50 Years of Violations of Human Rights in Communist Vietnam,”
Nguyễn Tri Văn, Phạm Vĩnh Xuân, Nguyễn
Quốc Việt,
3. Nguyên bản tiếng Anh
“Religions in Communist Vietnam,” Nguyễn Quốc Việt
và Nguyễn Ðại Tường hợp
soạn, Vietnam Human Rights Watch xuất bản, USA 1998.
|
|
![]() |