Ðại
Học Máu
THAY
LỜI TỰA
Tháng 6 năm 1975 -- một tháng sau
ngày bộ đội cộng sản tràn ngập miền Nam tự do -- những
công nhân công chức của Việt Nam Cộng Hoà nghe đài phát
thanh lần lượt loan báo các lệnh gọi trình diện "học tập
cải tạo." Ðó là các thông cáo ngày 10-6, ngày 11-6 và ngày
20-6, ký tên Uỷ Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn - Gia Ðịnh.
Ngoài sự chỉ định rõ ràng những
địa điểm và ngày giờ trình diện còn có lời yêu cầu
những người đi học tập cải tạo phải "đem theo đầy đủ
giấy, bút, quần áo, mùng mền, vật dụng cá nhân, đồ ăn
hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày, kể từ ngày tập
trung trình diện" (thông cáo ngày 20-6). Riêng đối với các
sĩ quan cao cấp trong quân đội và cảnh sát, các dân biểu
và thượng nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái "phản động"
tại miền Nam, thì được lệnh "đem theo đầy đủ giấy,
bút, quần áo, mùng mền, vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc
tiền bạc để dùng trong một tháng kể từ ngày học tập
đầu tiên" (thông cáo ngày 11-6).
Bản tường trình tháng 4 năm 1983
của Ginetta Sagan và Stephen Denney (Aurora Foundation), căn cứ trên
những kết quả điều tra và phỏng vấn, đã cho biết: "Rất
ít, nếu có, người đi học tập cải tạo được thả về
sau thời hạn mười ngày hay một tháng. . . . Trong số hơn
một triệu người đã đi vào các trại học tập cải tạo
(trên 150 trại rải rác khắp nước Việt Nam) thì có khoảng
500.000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200.000
người đã ở trong trại từ hai năm đến bốn năm; 240.000
người đã phải chịu đựng ít nhất năm năm trong cảnh tù
đày; và cho đến nay (4-1983) vẫn còn ít nhất là 60.000 người
đang bị giam giữ."
Chúng ta thông cảm cho sự ngập
ngừng, dè dặt của Sagan và Denny khi đưa ra những con số
thống kê về tù cải tạo. Những con số ấy chỉ gợi lên
một ý niệm chứ không thể có được giá trị dữ kiện.
Làm sao đòi hỏi con số thống kê chính xác về những nạn
nhân của một chế độ mà sự dối trá vốn được coi là
nguyên tắc chỉ đạo căn bản?
Phần tường trình về "học tập
cải tạo" chiếm 26 trang trong bản tường trình của Aurora
Foundation nhằm minh chứng một trong những hiện tượng vi phạm
nhân quyền trầm trọng đang xảy ra tại Việt Nam trong khoảng
thời gian từ 30-4-1975 đến 30-4-1983. Thật ra, trước đó,
miền Bắc suốt hai mươi mốt năm sống dưới chế độ cộng
sản đãkhông được biết đến nhân quyền là gì. Nếu nói
về văn kiện chính thức, thì chế độ "học tập cải tạo"
đã được ban hành do Nghị quyết số 49 (ngày 20-6-1961) và
Thông cáo số 121 (ngày 8-9-1961). Sự ban hành ấy có nghĩa là:
Mọi thành phần bị coi như đối nghịch, phản động, đã
từng (hoặc đang) ở trong các nhà tù thì nay đều bị đảng
vànhà nước "gom" lại trong một loại nhà tù mới, tổ chức
quy mô hơn, theo đúng khuôn mẫu của các nước cộng sản
đàn anh. Loại nhà tù này đặc sắc hơn những nhà tù bình
thường khác ở chỗ nó có thể thoả mãn cùng một lúc nhiều
mục tiêu. Thí dụ mục tiêu an ninh (giam giữ vô hạn định
những thành phần nguy hiểm mà khỏi phải mất công thực
hiện các thủ tục pháp lý, đồng thời luôn luôn giữ được
sự chủ động kiểm soát khối lượng tù nhân theo tình hình
an ninh nội chính); mục tiêu chính trị (có điều kiện thuận
lợi để thực hiện chương trình tẩy não và nhồi sọ tư
tưởng cộng sản, mặt khác tạo không khí thường xuyên khủng
bố tinh thần nhân dân bằng hình thức đe dọa gián tiếp,
nhờ đó dễ dàng tiến hành các kế hoạch chính trị); mục
tiêu kinh tế (sử dụng không công một khối nhân lực đáng
kể trong những công tác kiến thiết, sản xuất, và phục
vụ bộ máy lãnh đạo; đồng thời tránh được trách nhiệm
phối trí khối nhân lực này vào một guồng máy kinh tế vốn
đang lâm vào cảnh khiếm dụng) v.v. . .
Chế độ "học tập cải tạo" được
mở rộng ngay sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, dĩ nhiên vẫn
với sự áp dụng những phương pháp quản lý cũ và vẫn nhắm
vào những mục tiêu cũ, nhưng đặc biệt có phần khắc nghiệt
hơn trong cung cách quản lý. Nguyên nhân có thể là vì lòng
căm thù (pha lẫn mặc cảm) đối với thành phần tù nhân
mới; nguyên nhân cũng có thể là vì sự suy đồi trầm trọng
trong tình hình chính trị và kinh tế sau khi hoàn thành cuộc
cưỡng chiếm đã khiến cho điều kiện ăn ở của tù nhân
trong các "trại học tập" trở thành tồi tệ vượt ngoài
sức tưởng tượng, thí dụ khẩu phần thường lệ của tù
nhân cùng với những thực phẩm do thân nhân tiếp tế đã
bị cắt xén hoặc tước đoạt nhằm cung ứng bù đắp cho
chính những cán bộ quản giáo. Tính chất phi nhân của chế
độ "học tập cải tạo," thể hiện qua những sự thật khủng
khiếp, chỉ từ sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ mới bắt
đầu được phanh phui trước dư luận thế giới và được
phanh phui bởi nguồn tài liệu đắt giá: tiếng nói của những
người đã sống sót và đã vượt thoát sau khi trở về từ
các "trại học tập."
Ðại Học Máu là một trong những
tiếng nói đó. Không phải là tiếng nói đầu tiên, và chắc
chắn nó cũng không phải là tiếng nói sau cùng. Tám trăm hai
mươi hai trang sách, chia thành bảy mươi chương, chỉ là lời
tường trình của một chứng nhân về những điều mắt thấy
tai nghe trong bốn "trại học tập": Trảng Lớn, An Dưỡng,
Suối Máu và Hàm Tân. Ðó là những nơi mà Hà Thúc Sinh, một
sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng Hoà, đã
sống từ ngày 26-6-1975 đến ngày 9-2-1980, nghĩa là trong 4 năm
7 tháng 14 ngày.
Tháng 11-1980, Hà Thúc Sinh bắt đầu
viết Ðại Học Máu tại đảo Pulau Bidong, mảnh đất tự
do đầu tiên mà anh đặt chân tới sau khi vượt thoát khỏi
Việt Nam. Bản thảo được hoàn tất vào tháng 12-1984 tại
San Diego (California), mảnh đất tự do thứ hai của anh. Viết
Ðại Học Máu, Hà Thúc Sinh chẳng qua chỉ làm tiếp công việc
đã từng được làm bởi nhiều người khác (và hẳn còn
đang được tiếp tục làm bởi nhiều người khác nữa). Ðó
là nói lên tiếng nói của sự thật, cái sự thật bi thảm
và kinh tởm về chế độ "học tập cải tạo" của cộng
sản, cái sự thật mà cho đến giờ phút này vẫn còn hoặc
chưa được biết tới đầy đủ, hoặc bị cố tình tảng
lờ, cố tình phủ nhận bởi những con người may mắn của
một thế giới tự do nhất định không chịu tỉnh ngủ.
Nghĩ cho cùng, tiếng nói của sự
thật vốn không phải là thứ tiếng nói êm tai, dễ nghe. Và
người ta có lẽ thích nhìn văn chương như cánh cửa mở ra
một thế giới bình an, hạnh phúc, hơn là một thế giới
đày đoạ, khốn cùng. Tiếc thay, trên mặt địa cầu hiện
nay có những bức màn sắt được dựng lên để chặn bít
tất cả mọi cửa ngõ dẫn đến bình an và hạnh phúc. Ngày
nào những bức màn sắt đó chưa sụp đổ, ngày đó văn chương
còn phải tiếp tục đóng vai trò của những viên đạn xuyên
phá, của những hồi chuông cảnh tỉnh và báo động.
Trong một bản "nhạc tù" viết tại
trại Hàm Tân năm 1980, Hà Thúc Sinh đã tự nhủ rằng, nếu
còn sống mà trở về, anh sẽ chỉ xin được làm "một đời
thằng mõ không công." Anh đã sống sót, đã trở về, và anh
đang làm đúng cái công việc mà khi ở trong tù anh ước nguyện:
Làm thay cho những người bạn đã không được may mắn sống
sót trở trở về cùng anh; làm thay cho những người bạn mà
anh chỉ biết cầu nguyện rằng đến giờ này vẫn còn sống
sót để sẽ có ngày trở về; đồng thời, cũng làm thay luôn
cho những người tuy đã may mắn sống sót trở về, nhưng
khi may mắn thêm lần nữa làthoát thân được đến vùng tự
do thì lại đổi tính đổi nết, trở thành nhân từ và đãng
trí.
Hơn tám trăm trang Ðại Học Máu
được kết thúc bằng một hoạt cảnh xảy ra bên một con
suối trong trại Hàm Tân, khi tác giả cùng mấy anh em bạn
tù vừa được "lệnh tạm tha," hí hửng đi tắm rửa, bị
một tên an ninh vòng đai trông thấy, quát hỏi:
"Mấy thằng tù kia, đội nào nhà
nào mà giờ này còn tắm ở đây?"
"Báo cáo cán bộ, tụi tôi được
thả rồi, được tự do rồi."
Tên công an thứ hai nghe vậy vội
chen vào:
"Này, ăn nói với cán bộ mà vô
phép thế đấy phỏng? Mày tưởng thế là mày tự do đấy
phỏng?"
Hà Thúc Sinh kết thúc bản tường
trình ở đấy. Câu hỏi chót đã không được trả lời, mà
đã được ghi lại nguyên văn để gửi đến chúng ta.
Thỉnh thoảng người cộng sản
lại buột miệng hỏi một câu mà ít ai chịu để ý nghe.
Nếu để ý nghe, thế giới tự do hẳn đã đỡ tốn rất
nhiều thì giờ, bút giấy và máu xương.
Nhà
xuất bản Nhân Văn
San
Jose 3-1985
|