Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA


Ðại Học Máu
 
CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Việc chuyển trại lần thứ hai xảy ra khi tù cải tạo vừa bước sang ngày thứ hai cuộc học tập thảo luận về nội dung cách mạng của hai cuộn phim mới thưởng thức. Lần này khác hơn lần trước ở chỗ trước khi chuyển trại, bọn quản giáo làm một màn xét đồ tập thể.

Buổi sáng trước khi tập họp để bước vào thảo luận, các khối trưởng thình lình được lệnh lên khung hội ý. Mười lăm phút sau, đi theo các khối trưởng là bọn quản giáo với vệ binh trang bị súng ống ập vào các khối.

Quản giáo Cư với khuôn mặt lạnh lùng cố hữu đứng ngay trước cửa, nói lớn, "Theo trên quy định hôm nay cho khối ngưng thảo luận. Các anh khẩn trương thu hết đồ đạc cá nhân đem ra ngoài sân. Anh khối trưởng và các anh tổ trưởng sẽ chia vùng để các tổ viên có chỗ bày biện cho cuộc kiểm tra đột xuất."

Nói xong Cư bước ra ngoài. Hai đầu phòng có hai vệ binh đứng canh và dò xét bọn tù lom lom. Mọi người đều muốn bàn chuyện với nhau nhưng kẹt bốn con mắt của hai thằng vệ binh, thành thử chỉ lặng lẽ thu xếp đồ đạc và đưa mắt nhìn nhau. Trong 119 người không thiếu những người mất bình tĩnh trông thấy. Có anh hoảng hốt không biết giấu quyển nhật ký bé tẹo vào đâu. Có anh không biết giấu mũi lưỡi lê nhặt được khi đi lao động vào chỗ nào. Toàn là đồ quốc cấm! Mà nếu không giấu hay thủ tiêu kịp thời, bị chúng tìm ra hậu quả thật khó lường.

Ðính chợt thầm thì bên tai Vĩnh.

"Kẹt, quyển Kinh Thánh của tao giờ giấu đâu đây?"

Vĩnh cũng đang băn khoăn về cỗ tràng hạt của anh. Ðây là cỗ tràng hạt bằng bạc, đựng trong một hộp lục lăng nhỏ cũng bằng bạc, ngoài nắp có khắc nổi hình toà thánh Vatican. Nó là món quà lưu niêm của người anh cả trước ngày anh đi nộp mình theo dạng cấp tá. Câu nói của tên thủ trưởng lần lên lớp vừa rồi còn vẳng bên tai Vĩnh: "Xã hội ta tự do, trong có cả tự do tôn giáo, nhưng tự do ấy chỉ dành cho các công dân lương thiện bên ngoài xã hội. Các anh hiện không có quyền công dân, đang học tập cải tạo, thì chưa được hưởng quyền tự do ấy. Các anh chỉ có quyền duy nhất là quyền được sống để học tập lao động tốt. Trại không chấp nhận mọi hình thức duy tâm, có nghĩa cấm chỉ việc đọc kinh đọc hạt. Mọi tụ tập có tính tôn giáo tuyệt đối bị ngăn cấm. Ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị. Anh nào lỡ đem theo sách kinh hoặc những hình tượng mê tín dị đoan phải nộp cho trại cùng những vàng bạc quý kim. Cũng nói thêm, xã hội ta trừ hai nghề làm đĩ và ăn cướp, mọi nghề khác đều được cho phép hành nghề nếu có đăng ký và đóng thuế cho nhà nước, kể cả việc hành nghề tôn giáo. Tuy nhiên như đã nói, trong trại cải tạo không chấp nhận bất cứ sự hành nghề nào, kể cả hành nghề tôn giáo, do đó cách mạng yêu cầu các anh cha và các anh sư phải chấm dứt việc hành nghề tôn giáo bất hợp pháp trong trại tức thì. Ai vi phạm coi như ngoan cường chống lại cách mạng, mà đến bây giờ còn chống lại cách mạng thì. . ."

Vĩnh vừa nhét quần áo chăn màn vào chiếc bao cát lớn vừa thầm thì đủ cho Ðính nghe.

"Mày còn cái bao cát nhỏ nào không?"

"Còn."

"Ðưa tao."

Ðính đưa Vĩnh một cái bao cát. Anh kín đáo để ý hai tên vệ binh và luôn cả thằng Ba Tô. Khi biết chắc an toàn, anh bảo Ðính, "Ðưa quyển Thánh Kinh đây."

"Làm gì?"

"Thì cứ đưa đây."

Ðính đưa quyển sách cho Vĩnh. Vĩnh nhắc, "Nhớ mày còn một cây Thánh giá?"

Ðính gật đầu.

"Mày không nhắc tao quên mất."

Lát sau trong chiếc bao cát đã đựng đủ những món quốc cấm mà Vĩnh và Ðính tàng trữ bấy lâu nay. Quan sát tình hình lần nữa, Vĩnh quyết định đẩy cái bao qua kẽ hở nơi đầu chỗ nằm. Nó rơi vào nằm yên ổn giữa đống thùng tưới nước đặt dưới mái hiên ngoài sân.

Xong việc, Vĩnh nói khẽ:

"Thế là tạm yên."

Ðính thều thào:

"Thế cũng hay, nhưng. . ."

Giọng nói lớn của khối trưởng cắt ngang lời Ðính. "Trước khi đem đồ ra ngoài sân," Trai nói, "tôi lập lại lời quản giáo lần cuối: Bất cứ ai còn lưu trữ món gì thuộc về vũ khí, chất nổ, thuốc độc, vật bén nhọn hoặc những hình tượng mê tín dị đoan như tượng bụt, tượng phật, hình thập giá phải đem nộp cho các anh vệ binh ngay lúc này. Ai ngoan cố giữ trong tư trang hoặc trong mình, nếu bị phát hiện sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm với trên." Giọng Trai như lớn hơn một chút, anh tiếp, "Sao, còn ai trong khối ta giữ những thứ đó trong người không?"

Không ai trả lời. Và hình như Trai cũng thừa biết chẳng có ma dại nào đi trả lời cho câu hỏi bất đắc dĩ của mình, anh ta nói luôn, "Bây giờ các anh tổ trưởng hướng dẫn anh em đem đồ ra sân."

Buổi sáng nắng đẹp. Căn cứ Trảng Lớn giờ đã thật sự có mùi đồng áng. Ðây là một tổng hợp của mùi phân người, mùi nước tiểu, mùi bùn từ các ao rau quanh trại, mùi gà qué của bọn hậu cần nuôi thả chạy từng bầy, mùi củi mục, mùi hôi từ những căn bếp toả ra. Giờ đây tù các khối đang trải đồ cá nhân ra sân cho cai tù kiểm soát, không khí vì đó lại có thêm mùi chua chua lộn mùi ẩm mốc của những bộ quần áo rách như tổ đỉa, mùi sét gỉ của lon cóng, mùi nước điếu đổ dính trên chăn màn. . .

Vĩnh thầm nghĩ không biết bao giờ thì sẽ có mùi của những xác chết vì bệnh dịch nơi đây!

Nửa tiếng sau tù đã bầy hết hàng hoá họ có trên mặt đất. Tiền hậu tả hữu mỗi người cách nhau bốn sải tay. Vĩnh cũng trải tấm chăn rách trước mặt. Anh lôi khỏi bao đầu tiên là cái màn, thứ đến hai cái quần đùi, rồi một áo thun, một quần dài, một sơ-mi, một cái bát, một đôi đũa. Chiếc điếu cày đã để sẵn dước chân từ đầu. Ðó là tất cả tài sản của anh.

Quản giáo Cư có hai vệ binh và khối trưởng khối phó đi theo xét kỹ tư trang từng người. Giờ tới lượt Vĩnh.

Cư hỏi:

"Có thế này thôi à?"

"Vâng, tôi không có gì thêm."

Hắn ngó Vĩnh, rồi hất hàm bảo khối trưởng Trai:

"Khám người anh này coi."

Trai miễn cưỡng vuốt từ chân lên đến nách Vĩnh. Thấy không có gì, quản giáo đích thân cầm cái màn lên rũ vài cái. Cũng không có gì. Nhìn thấy cái điếu, Cư hỏi khơi khơi, "Có nhét chất nổ trong điếu không đấy?"

"Dạ tôi đâu giữ chất nổ làm gì."

Tên quản giáo cười cười và cầm cái điếu lên ngắm nghía.

"Cũng khéo tay đấy nhỉ."

Vĩnh tính bảo đây không phải sản phẩm thủ công của anh mà của người khác làm cho, nhưng nghĩ sao lại thôi. Anh chỉ đứng yên ngó xuống mớ tài sản của mình. Quyền tư hữu ngày nay dưới chế độ cộng sản chỉ có thế. Vài manh quần áo rách thua cả tên ăn mày dưới chế độ "tư sản phản động." Thốt nhiên Vĩnh chua chát nghĩ: Không biết ta còn giữ được manh quần đùi trên thân thể mấy ngày nữa!

Cuộc kiểm tra tư trang diễn ra gần hết buổi sáng. Ðến chiều lệnh chuyển trại mới chính thức ban ra. Bạn bè lại có dịp chạy tìm nhau náo loạn. Họ bàn tán, nhắn gửi, hỏi han, dặn dò nhau đủ chuyện.

Có một điểm phải khi sống với cộng sản mới biết được, ấy là vấn đề bảo mật. Gì chứ việc bảo mật chúng ăn đứt người quốc gia. Chúng tích cực bảo mật từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ nhất. Khi quản giáo được lệnh thông báo cho tù sửa soạn chuyển trại thì chính bản thân quản giáo cũng biết đến đó thôi, ngoài ra hắn cũng không biết chắc tù sẽ đi đâu và khi nào đi. Ðã kinh nghiệm chuyện bảo mật của hệ thống cai tù, đám tù cải tạo chẳng còn mấy ai quá nôn nóng thắc mắc, thay vào là sự mệt mỏi tinh thần nặng nề, kể cả với những tay từng hân hoan khai báo trong bản tự khai rằng họ là con em. . . liệt sĩ cách mạng. Sống dưới chế độ lao tù cộng sản mới thấy thân phận con người chẳng hơn gì một nhánh rong. Lâu lâu một cuộc chuyển trại ập đến chẳng khác một đợt sóng lớn bất ngờ, kéo những nhánh rong trôi xa bờ hơn, biền biệt hơn về một góc bể chân trời nào đó mà ngày quy hồi cố hương càng thêm vô vọng.

Khi chiều xuống Vĩnh vòng ra sau nhà nhặt lại cái bao cát đựng đồ quốc cấm, rồi làm một vòng tìm gặp bạn bè đến khi chập choạng mới về phòng. Ngày mai đi? Ngày mốt đi? Ði đâu? Những câu hỏi không muốn hỏi những nó vẫn quay mòng mòng trong đầu một số người. Vĩnh cố nằm yên không suy nghĩ. Anh nhìn quanh. Bạn bè cùng phòng nằm ngổn ngang như những bó củi khô. Không khí chật chội hôi hám như cái chuồng heo. Tuy thế, một số khá đông không tỏ ra suy tư lo lắng, họ vẫn mê mệt vây lấy những anh bạn kể chuyện Tam Quốc, chuyện chưởng. Nhưng hình như chỗ thu hút đông hơn cả vẫn là chỗ nằm của ông già Hoà. Ngoài nghề hoả đầu vụ trong quân đội ông còn là chủ một quán nhậu xưa kia. Bò lúc lắc, cua rang muối, lẩu lươn, canh chua cá bông lau, bào ngư xào cải bẹ xanh cho đến rắn hổ xào hành, chuột khìa nước dừa, chim ốc cao chiên dòn, đuông tẩm bột chiên bơ, ốc len xào dừa v.v... không tối nào ông không cho cả phòng nhậu hàm thụ.

Ðêm đã khuya. Bọn vệ binh bắt đầu lầm lũi vác súng đi tới lui ngoài sân. Thỉnh thoảng những tiếng quát bắt tù tắt nến đi ngủ lại vang lên đây đó. Khối 2 vẫn còn người rầm rì kể chuyện. Vĩnh nằm ngó ra ngoài hiên. Trời như đang chuyển mưa. Gió về đêm lành lạnh. Trong cơn mơ màng tự dưng anh thấy mình lạc về một cõi nào xa xôi lắm. Cái cảnh chập chờn tranh tối tranh sáng ngoài kia, ẩn hiện trong tiếng ì ộp cóc nhái khiến thêm một lần trong đời anh thấy lại toàn bộ quang cảnh những chuyến tản cư ngày thơ ấu, và lần trốn chạy sau cùng. . . Trên con đường từ Thanh Hoá ra Ðiền Hộ, có đoạn anh được đi ca-nô với người anh cả. Trên những cánh đồng đêm mênh mông dưới mưa chuyển, bóng những thằng bù nhìn chập chờn như ma trơi. Cậu bé tám chín tuổi sợ tê dại mà không biết than thở cùng ai. . . Bây giờ, trong một phút mơ màng, Vĩnh cũng đang mang cái sợ y hệt mấy chục năm trước. Một thằng bù nhìn phất phơ dưới trời chuyển mưa sao lại đứng ngay đầu giường anh thế này? Vĩnh kéo chăn trùm kín đầu. Tiếng người vẫn xầm xì và Vĩnh dần tỉnh lại. Anh lại ngước lên kẽ hở đầu chỗ nằm nhìn ra hàng hiên đen tối. Bóng người chập chờn bên ngoài đã biến đâu mất. Thốt nhiên chẳng riêng Vĩnh mà cả phòng choàng tỉnh hết.

"Tắt đèn, tắt đèn đi ngủ!" một thằng vệ binh xuất hiện ngay cửa phòng, ngó về phía ông già Hoà, thét. "Anh già kia, tôi cấm anh tuyên truyền những món ăn phản động. Tôi khẳng định với tất cả các anh những món ăn ấy là hoang đường, là không bao giờ có thật trên thế gian này!"

Ž

Tất cả những lời giã từ, chúc tụng đâm ra vô nghĩa trong lần chuyển trại kỳ này. Không ai phải chia tay ai, vì toàn bộ L4T3 được đưa sang một địa điểm mới không quá xa. Nó nằm ngay bên kia đường, đối diện với khu trại cũ và đối lưng với L4T2.

Trại mới cũng như những trại khác, gồm toàn nhà gỗ cũ sắp sụm vì mối mọt. Sang tới nơi, tù phải đổ công tu sửa tức thì mới có thể dùng làm nơi che mưa trú nắng được. Cũng như những lần trước, những công tác sửa nhà cửa, đắp bếp, đào giếng, làm cầu tiêu, dựng thêm sườn nhà, đắp nền, đan tranh, tu sửa khu gia cư của ban chỉ huy. . . lại được khung lập thành kế hoạch cho tù thực hiện.

Ðầu tắt mặt tối nửa tháng trời, cho đến khi những cái giếng sau cùng được hoàn tất, nơi ăn chốn ở mới coi như tạm xong. Giờ đến một công tác mới có khiến tù phấn chấn hơn: Làm hội trường. Theo đám quản giáo, không riêng L4T3, mà ở tất cả các trại cải tạo trên toàn quốc đều được lệnh dựng hội trường. Nó sẽ được dùng làm nơi học tập chính trị trong một tương lai gần. Yêu cầu của trên là hội trường phải thật to, thật bề thế để xứng đáng cho phong trào học tập chính trị sẽ được phát động trên cả nước. Nó là khâu then chốt trước khi cách mạng cho những cải tạo tiến bộ về đoàn tụ gia đình.

Mô hình hội trường gần như là một mô hình chung từ sư đoàn đưa xuống các trại. Nó sẽ là một toà nhà ba gian, có chính điện và hai chái. Sức chứa của hội trường phải có từ 800 đến 1.000 chỗ ngồi. Các cột điện gỗ của Mỹ sẽ được dùng làm cột kèo. Mái lợp tôn. Vách đóng bằng vỉ sắt PSP.

Công tác dựng hội trường khởi sự vào quãng cuối tháng chín năm 1975. Hơn tháng sau nó đi vào giai đoạn kết thúc. Trong lúc các khối khác phải lên phi trường tháo thêm một số vỉ sắt, hoặc đập dẹp các vỏ đạn đồng 105 ly dùng trang trí bên trong hội trường, thì khối 2 chịu trách nhiệm trang trí sân khấu và đào ao lấy đất đắp nền. Riêng A3 đảm trách công tác thu nhặt bao cát quanh căn cứ, đem về tháo chỉ, giặt sạch phơi khô, và khâu lại để làm trần hội trường cũng như làm phông và các cánh gà sân khấu.

Tháng mười một hội trường hoàn tất. Những lời hứa thả sau đợt học tập chính trị sắp tới bắt đầu được bọn quản giáo tung ra. Sự lạc quan trong bọn tù chưa được nồng nhiệt cho lắm thì vừa lúc mối lo đã trùm phủ lên mọi người: Bệnh ghẻ xuất hiện và hoành hành!

Gần nửa năm đói ăn và lao động nặng, mùa lạnh lại kéo tới sớm hơn và khủng khiếp chưa từng thấy ở miền Nam, đã khiến bọn tù cực kỳ khốn đốn. Người ta rỉ tai rằng chính bọn cán ngố đã đem theo cái đói lẫn cái lạnh từ miền Bắc vào. Ðói lạnh đã lột hết màu da bóng bẩy trên các khuôn mặt; bóc dần đi những thớ thịt ở vai, ở ngực, ở mông, ở chân. Miệng người như mọc thêm răng. Người ta thưa thốt chậm chạp. Có người đã bắt đầu như không muốn nói nữa, thay vào, suốt ngày suốt đêm chỉ muốn có gì để nhai. Khi đi lao động khổ sai, những đôi mắt như những tên lính canh mệt mỏi phục trong các hố mắt sâu, thường khi sáng lên lúc chúng phát hiện ra một con cóc, con nhái, con thằn lằn, con cào cào, con ốc sên hay con sâu củi. Thành ngữ "bất cứ sinh vật nào ngọ nguậy được trên mặt đất đều ăn được tuốt" ra đời từ lúc này.

Trong tình trạng như thế tù cải tạo đã trở thành một bầy cừu trước sự hoành hành của con sư tử ghẻ.

Sinh ra và lớn lên trong thế giới tự do và trù phú, gần như người ta chỉ còn biết đến bệnh ghẻ qua lý thuyết. Ngoài giới y sĩ chuyên môn thì chắc đa số đã quên phứt bài học ghẻ học từ ấu thời trong môn khoa học thường thức. Nhiều lắm người ta cũng chỉ nhớ đại khái rằng bệnh ghẻ là bệnh chúa lây do con cái ghẻ truyền từ người này sang người khác. Cái ghẻ là một con rất ư nghịch ngợm. Nó độc tìm những chỗ ẩn náu mà khi con người giơ tay gãi có thể tạo những động tác công xúc tu sỉ. Ngày hôm nay nhờ bác đảng, người miền Nam được nếm mùi ghẻ. Thật là oan nếu người ta nghĩ rằng tù cải tạo sở dĩ bị ghẻ vì xa vợ, ở bẩn lười tắm mà phát ghẻ. Không phải như thế. Dịch ghẻ năm 1975 đã không tha cả ông bà, cha mẹ, vợ con và cả lũ. . . em vợ vốn đẹp như tiên nga đang sống ngoài vòng rào trại cải tạo nữa. Nói tóm ghẻ cả miền Nam!

Giá như Samson, Hercules, Joshua, Hạng Võ hay Trạng Vật nhà ta có sống lại để làm quần quật như trâu, rồi nhận vào thân xác một thứ thực phẩm chó chê dê lạy của chế độ ẩm thực nơi đây, là mỗi bữa hai bát cơm gạo mục, lâu lâu được phát bồi dưỡng con khô cá chuồn -- thứ cá xưa kia người miền Nam chỉ xay làm thực phẩm gia súc -- thì lấy đâu ra kháng tố cho cơ thể mà không ghẻ!

Khi mùa lạnh lên cao điểm ở Trảng Lớn, lúc tù được nghe những tin chẳng hạn nay mai sẽ học sáu bài chính trị, hoặc anh chàng thiếu uý Mạnh người tự tử bằng lưu đạn lân tinh đã chết trên bệnh xá trung đoàn, thì cũng là lúc bệnh ghẻ hoành hành dữ dội nhất. Bọn tù thuốc men không có. Hàng đống bác sĩ quân y ở tù cũng bó tay và ghẻ như ai. Ghẻ ở tay, ghẻ ở chân, ghẻ ở mồm, ghẻ ở môi, ghẻ ở lưng, ghẻ ở bụng, ghẻ ở nách, ghẻ ở háng. . . Biết bao anh hùng hảo hán xông pha hòn tên mũi đạn không sao, một ngày sa cơ thất thế bị con cái ghẻ hạ sát thê thảm.

Lâm đường cùng bọn tù bắt đầu tìm cách chế thuốc. Việt Nam vào giai đoạn này đã trở thành xứ sở có nhiều dược sư nhất thế giới. Ði lao động vớ được củ cành lá hoa gì họ cũng tha về nấu tắm, nấu thành cao để bôi. Ðã có nhiều đấng dược sư bất đắc dĩ chết vì chính thuốc đương sự sáng chế. Nhiều người lớn tuổi bảo vỏ tràm đem nấu tắm cũng hết ghẻ nhưng rừng Trảng Lớn không có tràm. Dần dà người ta bước sang lãnh vực hoá chất. Một số đi lao động tìm ra chất nổ TNT và thuốc đạn đem về bôi; tuy nhiên, kết quả thật khủng khiếp khi những vết ghẻ lở đã không chỉ lở hơn mà còn sưng phồng như bị phỏng nước. Chỉ một thứ sau cùng khả dĩ xoa dịu được bệnh ghẻ khi nó còn nhẹ là thuốc bôi muỗi. Ðây là một khám phá bất ngờ không rõ ai là tác giả. Thuốc bôi muỗi trong các căn cứ Mỹ xưa kia đã bị rêu phong tuế nguyệt phủ trùm nay bỗng trở thành thần dược, và chẳng tên tù nào lại không muốn có trong tay.

Vĩnh cũng ghẻ như ai. Hơn một tháng anh mất ăn mất ngủ vì bị ghẻ hành. Một chiều Ðính đi lao động về đưa cho Vĩnh một ve thuốc muỗi.

Hắn nói:

"Bôi đi, bảo đảm đêm nay ngủ ngon."

Vĩnh cầm lấy cái ve nhựa nhỏ và dẹp có màu cứt ngựa, nói đùa:

"Nhỡ bôi xong nó sưng to như cái điếu cày lủng lẳng hai quả bưởi như thằng em cột chèo của mày thì sao?"

Ðính chẳng vừa, hắn bảo:

"Thì tao sẽ thương vợ mày như vợ tao, con mày như con hàng xóm."

Nói rồi Ðính thò tay vào chiếc va-li đặt trên đầu chỗ nằm, moi ra một cục xà phòng mới toanh đưa cho Vĩnh. Hắn tiếp, "Dial thứ thiệt đó nghe. Tao thủ từ hồi nhập trại, tính để hôm về tắm tẩy trần một bữa, nhưng giờ thì ngày về xa quá người ơi, mày lấy tắm một phát cho đã ngứa đi, xong gói lại trả tao. Phải lau mình thật khô trước khi bôi thuốc muỗi nó mới phê."

Ðêm ấy quả nhiên Vĩnh được ngủ một giấc li bì. Tuy nhiên thuốc muỗi chỉ có công hiệu làm giảm ngứa nhất thời. Cũng có người khỏi hẳn như trường hợp Vĩnh nhưng chẳng phải ai cũng may mắn như thế. Trong khi bị ghẻ hành dường như ai cũng thèm ngọt. Cái thèm da diết không diễn tả nổi. Nhiều lúc Vĩnh nghĩ đến chuyện hết ghẻ của mình chẳng do thuốc muỗi mà do được ăn miếng kẹo. Một đêm Ngô văn Tuyên lén lút và trịnh trọng gọi Vĩnh rời khỏi chỗ nằm. Vĩnh bước theo Tuyên tới trước căn bếp tối đen, nơi đó Tuyên dúi cho anh một gói giấy nhỏ đủ lọt lòng bàn tay.

"Giấu đi, kẹo đậu phọng đấy."

Tuyên thì thầm. Quả lúc ấy Vĩnh choáng váng khi nghe thấy chữ kẹo. Tuyên dặn khẽ, "Ðừng cho ai biết nhé, lộ ra chúng cùm tôi đấy."

Vĩnh muốn nuốt ngay miếng kẹo nhưng cũng hỏi khẽ một câu:

"Ðào đâu ra thế?"

"Tụi vệ binh nó bán sau dãy cầu tiêu, nhưng chớ mò ra nữa, bể rồi."

"Sao vậy?"

"Anh em không kỹ, ùa ra ào ào. Giờ tụi quản giáo nó đang nằm phục ngoài ấy."

Vĩnh cầm miếng kẹo Tuyên cho về chỗ Ðính nằm. Không có Ðính ở đó. Vĩnh chui vào chỗ mình, giấu miếng kẹo trong đống mền rồi lại chui ra ngồi nơi hàng ba đợi Ðính. Anh lan man nhớ đến chuyện Ðính đi mua kẹo hồi bên trại cũ. . .

Vào ban đêm, thỉnh thoảng bên ngoài hàng rào, ở những đoạn tối chẳng hạn như sau dãy cầu tiêu, thường có vài chú vệ binh tập tễnh học chuyện bán buôn để hy vọng có tí mùi tư sản. Một hai lần đầu việc bán buôn đã diễn ra giữa tù và vệ binh rất là nghiêm túc. Dần dà, lợi dụng tình trạng gấp rút trong cái thế mua lén bán lậu, bọn vệ binh bắt đầu dở dói thủ đoạn ma bùn đểu cáng.

Nửa đêm Ðính trổi dậy (sau khi đã có sự sắp xếp và làm một vòng quyên tiền bạn bè). Hắn bước khỏi phòng, miệng hô lớn với quỷ thần mông lung một câu theo nội quy quy định: "Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi ỉa." Hô hoán xong Ðính tà tà đi xuống phía nhà ỉa (*).

Tất nhiên Ðính nào có đi cầu tiêu, hắn chỉ đi cầu âu xem có tay vệ binh nào đang làm chuyện mua bán hay không. Một tiếng hỏi khẽ cất lên dưới đường mương bên ngoài rào. Ðính làm bộ sợ hãi khựng lại, thả lời dọ dẫm.

"Ai đấy?"

"Vệ binh đây. Có mua gì thì nẹ nẹ nên, không thằng quản giáo nó ra thì nôi thôi lắm."

"Nhiêu?"

"Ðường hả?"

"Ừ."

"Bốn trăm một cân." (**)

"Có kẹo không?"

"Có, kẹo nạc. Một phong mười miếng 200."

Có tiếng sột soạt đếm tiền.

"Cho một ký đường và ba miếng kẹo lạc."

"Cái gì, ký là cái gì?"

"À, một cân ấy."

"Ðược, nhưng kẹo nạc không bán nẻ. Một gói mười miếng 200 mua không?"

"Không đủ tiền, vậy mua đường thôi."

Kẻ nhận tiền người nhận đường nhanh như chớp rồi mạnh ai nấy biến.

Ðính về phòng giấu đường thật kỹ rồi lần lượt đi báo tin mừng cho anh em. Tốt, cứ từ từ để ngày mai tính. Ðêm ấy dĩ nhiên cơn xúc động rất khó lắng xuống trong Ðính. Sự may mắn đã cho mấy tên tù nghiễm nhiên làm chủ cả một ký đường. Ðính nhón ra một cục để thay mặt các bạn, ngồi trong màn vái bốn phương tám hướng mà tạ ơn quỷ thần, rồi anh thay quỷ thần mà. . . thượng hưởng. Ðời Ðính hẳn đã thừa ấm ức, nhưng giữa cái ấm ức lúc thấy rõ thầy Mẫu cắn gấu áo nâu mấy anh sư cộng đến nỗi bị lừa vào thế rước voi giày mồ, thì so với cái ấm ức bây giờ cường độ chắc cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu: Ðính đã nhai nát trong miệng một cục đất sét. . .

Ðêm ấy Vĩnh và Ðính nhâm nhi miếng kẹo lạc của Tuyên cho đến sáng với lon guigoz nước. Và khi hồi kẻng 5 giờ báo thức Vĩnh đã liếm trắng bóc năm đầu ngón tay, và chưa chừng Ðính dám đã điểm tâm luôn. . . miếng giấy gói kẹo. Thế nào thì từ đó Vĩnh vẫn đinh ninh chính nhờ miếng kẹo anh khỏi hẳn bệnh ghẻ. Nhưng anh khỏi trong lúc bạn bè đã và đang tìm đường sang bên kia thế giới vì con cái ghẻ -- một sản phẩm độc quyền của nhà nước cộng sản.

Trưa đi lao động về, cơm xong, nếu trên máy bay nhìn xuống, người ta có thể tưởng lầm bên dưới là một bãi biển toàn dân Playboy đang nằm khoả thân phơi nắng. Nhưng nếu vì lý do gì máy bay hạ cánh xuống, người ta mới thấy được tất cả sự thê thảm của bọn tù cải tạo phơi nắng giết cái ghẻ. Ôi một rừng người mà thân thể họ đã biến thái vì đói vì khổ nhục, giờ còn được trang điểm thêm những vết lở lói khắp cùng thì còn gì bầm dập hơn! Người của thế giới tự do làm sao tưởng tượng ra được cái cảnh một cựu sĩ quan Dù hào hùng giờ đã nhão ra vì ghẻ hành. Anh nằm đó. Ghẻ đã làm cứng lại các gân tay đến không còn bưng nổi bát cơm lên miệng. Mặt mũi, mồm mép đầy những lớp mủ ghẻ xanh lè. Anh đang cố chổng mông lên cho anh bạn Thuỷ quân Lục chiến -- cũng ghẻ tùm lum như anh -- cầmm miếng giẻ chấm mấy thứ thuốc tự chế quái quỷ bôi giùm.

Thấy người bạn Dù vẫn nằm yên, anh Thuỷ quân Lục chiến hỏi:

"Có thấy phê không?"

"Chẳng thấy gì."

"Lạ, tao bôi tao và bôi mấy đứa khác, đứa nào cũng giãy nảy vì xót."

". . ."

"Lạ nhỉ."

"Có chó gì mà lạ. Thịt tao coi như vữa rồi."

Anh Dù buồn buồn trả lời. Anh Thuỷ quân Lục chiến thương bạn tìm lời trấn an.

"Không, chắc nhiều khi xót quá nó tê đi."

"Tê quái gì. Tao biết tao chứ."

Buổi trưa Trảng Lớn tháng này nắng thật yếu ớt, ngược hẳn với tháng tư tháng sáu. Nhưng dù yếu, phơi một lát da thịt người vẫn như choắt lại vì sự co thắt của lớp ghẻ mủ trên da. Thỉnh thoảng một bầy chim lạ từ phía núi Bà Ðen bay ngang kêu những tiếng dạc dài trong trưa nắng. Chẳng bao giờ chúng đáp xuống đây, tuồng như chúng biết nếu không lây bệnh ghẻ thì cũng khó thoát tay những kẻ bị ghẻ -- cái đói, cái thèm có thể chớp mắt dựng những xác người sắp chết kia dậy để vồ chúng bằng những động tác nhanh đến độ đôi cánh cũng không kịp bốc chúng bay lên.

Người lính Dù lại hỏi vu vơ:

"Mày còn bi nào không?"

Anh Thuỷ quân Lục chiến nhẹ lắc đầu.

"Mấy ngày nay rít toàn lá tàu ô nóng muốn ho ra máu."

Anh Dù chắt lưỡi.

"Thèm quá!" anh nhìn ra cánh đồng lau bát ngát bên ngoài ụ đất phòng thủ, than khẽ. "Ðời tụi mình chẳng lẽ đều kết thúc với một cái thèm hèn hạ thế này thôi sao?"

Anh Thuỷ quân Lục chiến vẫn tiếp tục bôi thuốc cho bạn. Anh Dù bỗng ra hiệu cho bạn đừng bôi nữa. Anh chống tay quỳ lên, rồi tìm thế ngồi xổm tên tấm lót bao cát. Anh Thuỷ quân Lục chiến ngồi xuống với bạn, nhìn cặp giò lở lói của mình và chẳng nói gì.
___
(*) chính sách giáo dục tù phải dùng chữ kiểu ấy mới ra người có văn minh văn hoá cách mạng; có thế mới tương xứng ngoài đời, khi có phen cách mạng đã đòi hạ bảng hiệu Viện Bảo Sanh Từ Dũ để thay vào bảng hiệu mới Xưởng Ðẻ. Dầu sao chuyện này đảng đã thua các bà các cô. Xưởng Ðẻ chỉ đi vào giai thoai, không đi vào lịch sử.

(**) thời giá bên ngoài mới độ 100 đồng một ký.
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1