Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA


Ðại Học Máu
 
CHƯƠNG MƯỜI

Tổ A.3 nhận phần nhiệm đào ao rau muống nơi thửa đất nằm bên cánh trái của trại. Ðất căn cứ từng được Mỹ nén bằng hủ lô hạng nặng, những lớp đá ong bị nén ấy thời gian đã biến thành một lớp cứng như bê tông. Với những cuốc xẻng tự chế, tù hết sức cực khổ khi phải khai quật những lớp đá nén đó lên.

Quản giáo Cư lồng lộn khắp chốn. Không ai được ngồi nghỉ lấy một phút. Tổ A.3 đã bị hắn bắt quỳ giữa trời giữa đất non tiếng đồng hồ vì phè. Nói phè thì quá đáng, mà nói không phè thì cũng không phải. Thực thì tổ A.3 đã nghĩ ra cách lao động mới: Làm việc gối đầu. Cứ bán tổ này làm thì bán tổ kia ngưng tay nghỉ. Lề lối lao động này quản giáo rất ghét, nhưng nếu tổ đoàn kết thì vẫn bao che cho nhau được. Thoạt đầu tổ trưởng Tứ cũng ngại với sáng kiến này, dần dần thấy có thúc anh em cũng ì ra, anh đành chấp nhận thực tế, chính thức đưa đề nghị: Cả tổ, trừ khi thấy quản giáo xuất hiện, có thể thay phiên nhau cuốc cho đỡ mệt, nhưng nhất định lúc nào cũng phải có người cuốc cầm chừng, miễn sao hết giờ lao động chỉ tiêu phải đạt được hoặc cũng phải đạt ở mức một tám một mười. Sáng nay tổ trác, quản giáo nấp trong bụi thấy hết. Hắn xuất hiện sau một gò mối lớn, quát, "Ðám phản động kia, lao động như thế à? Kẻ hút thuốc, kẻ tán nhảm, kẻ chui trong bụi ngồi tránh nắng. Tập họp lại!"

Tứ rầu rĩ hô hoán anh em tập họp trình diện quản giáo. Mười tên tù, theo lệnh, xếp hàng ngang như một đội banh sầu thảm. Quản giáo Cư mặt đằng đằng sát khí. Hắn mắng chửi, "Toàn một bọn gian trá, xanh vỏ đỏ lòng, nín thở qua sông. Tao nấp trong bụi thấy tụi bay múa máy thế nào rồi. Tụi bay nhấc cái cuốc lên thì con cò đậu, hạ cái cuốc xuống thì con mối xông. Tao bảo thật ngoài lao động như thế có mà ăn cứt, ngày về của tụi bay có thể kéo dài vô tận. Tao lên lớp nhiều lần rồi. Cách mạng không có tình trạng lơ lửng con củ c. . . Một, tụi bay học tập lao động cho tốt để có ngày trở về; hai, bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát tụi bay trong này mất thôi."

Nói đến sùi bọt mép mà thấy mặt mũi lũ "nguỵ" cứ trơ ra, quản giáo Cư cáu lắm, hét, "Tao phạt tụi bay quỳ hai tiếng. Quỳ xuống!" Bọn tù nhìn nhau. Chẳng ai chịu quỳ. Tên quản giáo đâu có chịu thua. Hắn rút súng bắn cái đoàng một phát. Ðể hắn giận chơi tới súng cũng hơi phiền, có lẽ nghĩ thế nên tổ trưởng Tứ bèn quỳ ngay xuống để làm gương. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Cả đám lần lượt êm ái quỳ theo. Thằng Cư đứng chửi rủa thêm một lát mới chịu bỏ đi. Ðợi hắn đi khuất những giàn mướp rậm lá nơi khu canh tác gần đó, tổ A.3 mới đồng lòng ngồi cả xuống với nhau.

Lê văn Trợ lên tiếng chửi đổng, "Ðm. nó, kể từ thời để chỏm đi học tới nay hơn ba mươi năm tao mới bị quỳ trở lại."

Ðặng Xuân Bính như chịu không thấu cái nhục, mắt hắn cứ long lên sòng sọc. Vĩnh an ủi bạn, "Ðừng buồn mày ơi. Nếu mày muốn có ngày vồ lại được chúng nó thì mày rán chịu nhục, trừ khi mày muốn làm anh hùng một ngày, một tuần, dài lắm một tháng trong cái trại này."

Bính chẳng nói gì, chỉ tự dưng đứng lên cuốc hùng hục, cuốc hăng say như bất cứ tay lao động tiên tiến nào trong cái xã hội khốn khổ này. Vĩnh không tìm ra được triết lý cuốc cho vơi hận thù như bạn. Anh ngồi nghĩ ngợi lan man. Ðời thật là một ác mộng. Mới ngày nào mà giờ đây ra thân tù tội. Vĩnh nhìn ra vùng đất bao la. Xã hội xã hội chủ nghĩa đang xuất hiện trước mắt anh là một hiện trường lao động, trong đó con người phải quần quật với đủ mọi thứ khổ dịch. Những tiếng động, những lời tranh cãi của tù, những mắng nhiếc của cai tù vang vọng đây đó tạo thành một thế giới xa lạ anh biết sẽ chẳng bao giờ anh hoà nhập được. Thốt nhiên có tiếng hát khẽ vẳng lại. Vĩnh lắng tai nghe. Tay nào hát hay quá. Giọng thật khẽ, thật êm như chỉ vừa đủ để rủ Vĩnh trở về với dĩ vãng.

Mẹ già ở đất phù sa

Ðói no là no ai biết, rách lành ai có hay. . .

Ðó là bài hát của phù thuỷ Phạm Duy từng một thời làm anh rơi lệ. Ôi những bà mẹ phù sa! Ngày nay các con của mẹ -- những người mẹ gọi là đã học xong chiến lược giữ xóm làng -- đã bị giam tù hết bởi những kẻ mẹ gọi là giải phóng mà với tấm lòng hiền như cam quýt của mẹ, có thời mẹ cũng thương cũng che chở như con của mẹ, nhưng mẹ có biết giờ đây chúng đã lộ nguyên hình ngạ quỷ, có biết chúng đang bắt giam cả dân tộc của mẹ, và có còn thấy thương thấy yêu chúng nữa hay không? Mẹ phù sa ơi bây giờ mẹ ở đâu? Những anh giải phóng mẹ thương giấu dưới gầm giường năm xưa có trở mặt bắt giam cả mẹ hay không, có chụp lên đầu mẹ cái tội không biết phân biệt bạn và thù hay không, và có xỉ vả mẹ vì tấm lòng không thù hận mà chỉ có thương yêu vô bờ bến hay không?

Sự hồi tưởng đưa Vĩnh đi tới nhiều nơi của dĩ vãng.

Có thực mình thua cộng sản không? Tại sao lại xảy ra cuộc tháo chạy lạ thường dường ấy? Ðã bao lần Vĩnh nghĩ đến hai chữ gia đình. Vĩnh khẽ lắc đầu như không muốn nghĩ tiếp, không muốn sự lý luận của mình sẽ dẫn đến việc kết tội hai chữ thiêng liêng ấy. Thế nhưng vẫn như bao lần khác, Vĩnh không tránh khỏi một kết luận rằng: Ngoài những nguyên nhân xa là sự tương nhượng của các cường quốc có đính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam, nguyên nhân gần đem đến sự sụp đổ nhanh như một toà nhà trên vùng động đất của miền Nam chính là vì hai chữ gia đình.

Nếu năm 1954 cũng vì hai chữ gia đình, bảo vệ gia đình được toàn vẹn, người miền Bắc đã di cư xuống miền Nam, lập thành một chiến tuyến chống lại chủ nghĩa tam vô của cộng sản cách hữu hiệu, thì cũng vì hai chữ gia đình, hai mươi mốt năm sau người quốc gia thua về tay cộng sản. Ðánh làm sao được khi mà thê tróc tử phược. Ðánh làm sao được khi mà người quốc gia hoàn toàn khác cộng sản ở chỗ cộng sản chỉ có mục đích duy nhất phục vụ đảng và coi đảng như cứu cánh tối hậu cho ý nghĩa của cuộc nhân sinh. Ðảng còn, còn tất cả; đảng mất, mất tất cả. Còn người quốc gia thì từ anh binh nhì lên đến ông đại tướng, từ anh xích lô lên đến ông tổng thống, ai cũng có khuynh hướng đầu tư tất cả vốn liếng đời mình vào gia đình, vào bầy con. Với ý niệm huyết tộc trên hết, lâu ngày chầy tháng ý niệm này đã tiêu thực mất cả ý niệm về tổ quốc và tôn giáo (mà ít ai ngờ tới). Nói tóm lại, gia đình với người quốc gia Việt Nam trước năm 1975 đã thật sự trở thành cứu cánh sau cùng. Cứu cánh ấy mất là mất tất cả. Thế nên trong lúc biến, hầu hết chỉ lo làm sao bảo vệ được toàn vẹn gia đình, dù bảo vệ cách tiêu cực nhất là đem gia đình bỏ chạy. Chao ôi tình cảm gia đình thiêng liêng lắm, nhưng đau đớn thay, chẳng ai ngờ được rằng có lúc chính cái tình cảm ấy đã huỷ diệt đi sự sống tự do của cả một dân tộc.

"Nó đến, quỳ lên!"

Có tiếng báo động hốt hoảng và mọi người quỳ phắt lên. Vĩnh nghe trong người đau nhói. Nhưng anh biết đó không còn là cái đau của tủi nhục nữa mà là cái đau sinh lý. Mấy ngày nay bệnh sạn thận đã trở lại hành hạ anh. Triệu trứng thống buốt nơi bộ phận sinh dục về đêm làm anh mất ngủ bơ phờ. Ta sẽ không quỳ mà ta sẽ nằm xem nó đến đâu. Nghĩ thế Vĩnh lăn quay ra nằm trên mặt đất. Anh co rút người lại như một con tôm. Cơn đau bỗng nhiên dồn dập kéo đến, nhanh và tàn bạo không ngờ. Vĩnh cắn răng không rên la. Rên la trước mặt quân thù là điều tối kỵ. Nhưng đau quá. Nơi lưng Vĩnh giờ như đang bị một con ác quỷ dùng những móng sắc xé toạc ra.

Anh em trong tổ bất kể thằng Cư vừa bước tới, họ nhào đến nâng Vĩnh dậy. "Thằng Vĩnh nó làm sao thế này?" đau ù tai nhưng Vĩnh vẫn nhận ra giọng Lê văn Sanh.

Tiếp tiếng la của Sanh là giọng quản giáo Cư:

"Mấy người đóng kịch gì đây?"

Giọng Quách Tứ:

"Báo cáo anh anh Vĩnh ốm nặng mấy ngày nay."

"Ốm gì, đừng giả vờ giả vịt."

Bọn tù không biết nói sao đành đứng trố mắt nhìn. Thằng quản giáo bước tới gần. Hắn vẫn đứng thẳng lưng, hỏi, "Anh kia, đau cái gì?"

". . . !"

"Anh nghe tôi hỏi không, đau cái gì?"

"Tôi đau sạn thận."

"Sạn thận là cái gì?"

". . . !"

Thấy Vĩnh làm biếng trả lời, Tứ lên tiếng giải thích:

"Thưa anh ấy tiểu ra những vật cứng như sạn. Ðau lắm."

Cư hiểu ra, hắn lên giọng:

"Cái ấy người ta gọi là sỏi bọng đái. Hiểu chưa? Sỏi bọng đái mà nói sạn thận thì ai mà hiểu được." Hắn lại ngó xuống Vĩnh, hỏi, "Bị lâu chưa?"

"Tôi đau từ mấy năm trước."

"Thế nguỵ nó không chữa cho anh à?"

"Có nhưng không dứt. Lâu lâu nó tái phát."

Như được dịp, quản giáo Cư làm luôn một bài tố khổ nền y khoa lạc hậu của Mỹ nguỵ. Bọn tù lại banh lỗ tai tiếp thu bài học mới. Lên lớp đã đời hắn lại hỏi Vĩnh.

"Thấy đỡ chưa?"

"Chưa."

"Thôi được, tôi cho phép anh nằm đây nghỉ. Các anh kia tiếp tục lao động. Tôi nói lại các anh mà lao động láo lếu nữa là tôi sẽ cất hết vào conex. Tổ trưởng đâu?"

"Dạ tôi đây."

"Anh đi theo tôi."

Tổ phó Khoa thay tổ trưởng Tứ điều đồng tổ làm tiếp công tác khai quật lớp đá ong nén dày đến ba mươi phân. Vĩnh cố ngồi dậy. Anh tìm một bụi rậm chui vào tránh nắng. Nơi đây Vĩnh có thể thả mắt quan sát một vùng rộng rãi. Những tiếng đục đẽo, tiếng lăn rầm rầm của thùng phuy, tiếng hò hét chỉ huy, tiếng rên la của kẻ không may bị kẹp tay hay đạp đinh rền khắp nơi. Cảnh tượng nô lệ thời La Mã xa xưa đang tái diễn nơi đây. Những tên nô lệ thời mới nếu không có một cuộc tự cứu vĩ đại xảy ra thì chắc chắn sẽ rục xương trong kiếp nô lệ này. Nhưng tự cứu cách nào bây giờ? Hình ảnh Spartacus và những chiến hữu nô lệ xanh mét trên thập giá lại hiện rõ mồn một trong trí tưởng của Vĩnh.

Có tiếng la lớn sau lưng Vĩnh:

"Có ai trong bụi đi ra nghe. Cuốc vô đầu rán chịu nghe."

Vĩnh la lên:

"Ê, có bệnh nhân ngồi trong này nghe mấy cha."

"Bệnh thật hay bệnh giả? Tôi là bác sĩ đây."

Vĩnh nhận ra Ngô văn Tuyên. Anh bỏ ra khỏi bụi rậm. Phía bên kia tổ A.4 đã dàn hàng ngang, người nào người nấy cuốc trên tay sửa soạn thanh toán cái gò mối đầy cỏ hôi để làm tròn chỉ tiêu buổi sáng.

Thấy Vĩnh, Tuyên hỏi, "Sao vậy?"

"Sạn thận ông ơi."

"Rồng thiêng mới có ngọc. Ông cũng có ngọc, lên bàn thờ đến nơi."

Vĩnh không cười trước câu pha trò của bác sĩ Tuyên. Anh ngồi nhìn những nhát cuốc của anh em tổ A.4. Nó hạ dần những bụi cỏ hôi, để lộ ra bên cạnh gò mối lớn là một nền nhà Mỹ loại nhỏ (mà xưa có thể là một nền nhà tắm). Vĩnh đứng lên lùi sâu hơn nữa vào những bụi rậm sau lưng. Một con cút đất vụt chạy trốn. Những con cắc kè đủ màu chạy loạn để tránh nạn. Ðôi ba con chim sâu hốt hoảng rời tổ vụt bay về phía ruộng khoai mì xa xa. Vĩnh buồn buồn ngó cái nền nhà, hồn chìm trong hồi tưởng xót xa. Họ đến đây làm gì nhỉ? Họ đến đùng đùng như cơn bão rồi ra đi nhanh như cơn lốc, để lại cho miền Nam một di sản đầy thương đau.

Tổ trưởng A.4 có dáng đi chữ bát lạch bạch như con vịt bầu, thốt la lớn, "Mình trúng mối rồi!" Trúng mối ở đây là trúng cái nền nhà đúc bằng xi măng đá xanh. Ðiều ấy có nghĩa ngày mai đây tổ của anh ta phải bằng mọi cách phá nó cho xong để biến chỗ này thành những ao rau muống theo đúng quy hoạch của trại. Tổ A.4 giờ gần như nhập chung với tổ A.3. Thêm người thêm chuyện. Vĩnh thấy trong người khá hơn. Anh đứng lên chống cuốc nói chuyện với các bạn.

Tuyên cằn nhằn:

"Cái me-xứ Tuấn hôm qua nhảm quá."

"Thằng nhô điên ấy chấp nó làm gì."

"Nhưng lập luận của nó đâu có điên. Tự dưng nó lôi me-xừ Ðỉnh vào cuộc, rồi lôi cả tôi nữa. Sáng nay quản giáo nó hỏi tôi."

"Hỏi sao?"

"Chắc hồi xưa tù binh cách mạng lọt vào tay các anh, các anh đem vào trường y làm vật thử nghiệm phải không. Nghe nó hỏi mà mình muốn điên cha nó cả người."

"Việc quái gì phải điên."

"Ông coi, nó nghi ngờ, nó ngâm tôm hồ sơ mình có mà rũ tù."

Vĩnh lắng nghe giọng ông già Chuân ở mút đầu tổ A.4 đang nói chuyện với Ba Trợ.

"Ông coi," ông Chuân than thở. "Nó là thằng chó đểu. Tôi có ân oán gì với nó cho cam, chỉ vì mấy bi thuốc lào mà nó thù tôi. Tôi mang bệnh nghiến răng từ cha sinh mẹ đẻ, thế mà nó cũng đem tôi ra chụp mũ. . ."

Vĩnh sực nhớ ngày hôm qua mà buồn cười. Ông Chuân cũng là một nạn nhân của Tuấn chuột. Nó giũa Ba Tô đã đời, chiều đến lượt ông Chuân đọc bản tự khai nó cũng không tha. Nó bổ túc cho phần tự khai của ông bằng ý kiến: "Anh Chuân khai như thế là chưa thành khẩn và chưa hết. Tôi nhận thấy anh còn giấu diếm, không khai về việc nghiến răng từng đêm của anh. Cả phòng 120 người chỉ mỗi mình anh nghiến răng trèo trẹo ban đêm. Tôi không cho đó là bệnh, mà là kết quả của một quá trình ý thức. Ban ngày chắc anh căm thù cách mạng ghê lắm, dồn nén nói không được, vì thế ban đêm anh nằm nghiến răng đến nỗi cả phòng không ngủ nổi."

Lời phát biểu của Tuấn khiến cả khối phải nén cười. Tên Thịnh tỏ ra hiểu biết nên chận lời phát biểu quái quỷ ấy lại, và bảo, "Không, cái này thì anh Tuấn có thể sai đấy. Tôi biết có bệnh nghiến răng."

Quản giáo Cư và Quách Tứ đã trở lại. Khi Cư bước đi, không đợi anh em hỏi, Tứ kể:

"Không hiểu lý do gì quản giáo đem tôi lên khung hỏi về Trần Trọng Minh."

Giọng Ba Trợ:

"Nó hỏi gì?"

"Thì đại khái nhận xét thế nào về Minh? Xưa ở Không quân có chơi với nhau không? Minh lái loại máy bay gì? Trước đây chiến đấu ra sao? Cấp bậc là trung uý hay trung tá? Có bao nhiêu Anh dũng Bội tinh?

"Rồi ông trả lời sao?"

"Dĩ nhiễn tôi đâu biết gì mà trả lời. Nó lái khu trục tôi lái trực thăng. Chỉ nội khác biệt ấy đã không có dịp để biết nhau rồi."

"Thế sao làm việc lâu thế?"

Quách Tứ có vẻ giận trước câu hỏi hơi thiếu tế nhị của Ðặng Xuân Bính. Anh không nói gì thêm, chỉ kêu anh em cầm cuốc làm việc trở lại.
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1