Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA


Ðại Học Máu
 
CHƯƠNG HAI MƯƠI

Hôm nay là buổi phát biểu kết thúc sơ bộ đợt học tập sáu bài. Hội trường vẫn đông đủ như những kỳ trước. Giáo viên không hiện diện. Tên thủ phó Môn phụ trách điều động buổi phát biểu với sự quan sát của hầu hết cán bộ tiểu đoàn.

Ðúng như mọi người dự đoán, để mở đầu cuộc phát biểu, tên Môn phun châu nhả ngọc về cái chết của "tên phản động Nguyễn Xuân Dung." Hắn hoàn toàn lờ đi tin đồn theo đó Dung đã chết vì cái đồng hồ seiko. Hơn thế, hắn còn khoe thêm ít câu về đạo đức của những người đã dấn thân đi làm cách mạng vô sản. "Không có biến cố nào," hắn nói, "lại không có những lời đồn đãi đi theo, và đôi khi lời đồn đãi ấy hoàn toàn mang bản chất xuyên tạc của bọn xấu. Trước mắt, khung yêu cầu các anh phải tuyệt đối tin tưởng vào chính nghĩa sáng ngời của cách mạng, tự thấy có nghĩa vụ tố giác kịp thời kẻ tung những tin đồn sai trái có hại cho uy tín của những anh chiến sĩ, và gây hoang mang trong thành phần các cải tạo viên tiến bộ." Ðể kết thúc vấn đề Nguyễn Xuân Dung, hắn phỉnh phờ, "Mặc dù hiện nay vẫn có lẻ tẻ dăm ba nhóm tàn quân nguỵ ngoan cố rút vào rừng núi, sống bằng nghề thảo khấu để tiếp tục con đường chống phá cách mạng chống phá nhân dân, nhưng các anh cứ nghĩ xem, xưa kia các anh có cả triệu quân cộng với nửa triệu quân đế quốc Mỹ, chưa kể các đạo quân chư hầu đến đánh thuê cho Mỹ mà còn bị quân đội nhân dân anh hùng ta đánh cho tan rã, thì thử hỏi vài đám tàn quân ấy có nghĩa lý gì. Hành động trốn trại của tên Dung không thể biện minh cho bất cứ lý do nào khác, ngoài lý do tìm đường gia nhập các đám tàn quân để gieo rắc thêm tội ác với cách mạng, với nhân dân. Nhưng nghĩ cho cùng, hành động điên rồ ấy chẳng ích lợi gì mà chỉ thiệt thân. Sống vui vẻ giữa tập thể anh em, có người có ta, cơm ăn áo mặc cách mạng lo, chỉ việc học tập cho nên người lương thiện lại không muốn, muốn vào rừng làm thảo khấu, lẩn trốn như cáo như chồn nghĩa là làm sao? Thay mặt ban chỉ huy trại, một lần nữa tôi nhắc nhở chung các anh, từ nay, kể từ 5 giờ chiều cho đến sáng, bất cứ ai đến cách hàng rào ba thước sẽ bị vệ binh nổ súng. Ban chỉ huy trại cũng kêu gọi các anh phải tích cực tranh đấu sai trái, khai báo kịp thời những kẻ âm mưu trốn trại để trại ta sẽ là trại cải tạo tiên tiến mọi mặt, sẽ không còn những điều đáng tiếc xảy ra như trường hợp Nguyễn Xuân Dung."

Sau khi chấm dứt màn tố khổ Nguyễn Xuân Dung, Môn được tên tổng quản giáo Quỳnh bước tới trước máy vi âm thay thế. Quỳnh nói qua nội dung quy định trong việc phát biểu.

"Ðể kết thúc sơ bộ đợt học tập sáu bài," hắn nói, "cách mạng sẽ yêu cầu một số anh lên phát biểu cảm tưởng trước tập thể trại. Việc phát biểu này dĩ nhiên không cho phép tuỳ tiện mà phải đặt trên cơ sở lý luận của sáu bài học vừa qua. Thời gian phát biểu quy định cho mỗi người là từ năm tới mười phút. Cơ cấu bài phát biểu phải có hai vế rõ rệt. Vế một nói rõ lý do tại sao anh chống cộng. Vế hai nói rõ qua học tập hiện tư tưởng anh chuyển biến ra sao, nghĩ thế nào về cách mạng." Quỳnh bước lui hội ý với Môn, rồi với tờ giấy có sẵn trên tay, hắn tiếp, "Giờ tôi gọi anh nào anh ấy lên ngay sân khấu, đứng tại chỗ này để làm công tác phát biểu. Tất cả các anh đã nghe rõ chưa?"

"Rõ!"

Vĩnh ngồi nghĩ bụng nếu mình bị gọi thì sao? Không lẽ bước lên để tự chửi cha mình? Một sáng kiến nảy trong đầu Vĩnh. Nó giới hạn từ năm đến mười phút. Tốt. Nó lại chia làm hai vế rõ ràng. Càng tốt hơn nữa. Mình sẽ dùng một tuyệt chiêu để câu dầm vế thứ nhất. Chắc chắn chúng sẽ không có thì giờ ngồi nghe mình con cà con kê, và việc bị đuổi xuống nhường chỗ cho kẻ kế tiếp là chuyện rất có thể xảy ra. Nghĩ xong, Vĩnh ngồi sắp xếp câu chuyện để nhỡ có bị gọi lên anh sẽ làm đúng như dự tính.

Vài người bạn quanh quẩn ngó Vĩnh với ánh mắt băn khoăn. Vĩnh hiểu những ánh mắt ấy. Bị chửi dẫu sao cũng đỡ cực lòng hơn bị buộc đứng lên để tự chửi. Cộng sản có muôn ngàn cái đểu, nhưng có ba cái siêu đểu mà ai đã sống với chúng đều ghi nhận được. Siêu đểu thứ nhất là chụp lên đầu người dân cái chức làm chủ. Siêu đểu thứ hai là chế độ cộng sản không có nhà tù, chỉ có các trại cải tạo nhằm giáo dục những người dân, cách này hay cách khác, đã không làm tròn cái nhiệm vụ làm chủ của mình. Siêu đểu thứ ba là chúng dùng bạo lực bắt người ta đứng lên tự buộc tội trước mặt mọi người, tự giác tuyên cho mình cái án ba năm, năm năm, bảy năm hay lâu hơn nữa. Ba cái siêu đểu ấy trong nhiều chục năm qua đã nghiễm nhiên trở thành những nguyên tắc chính để sản sinh và duy trì không biết bao nhiêu trại tù khổ sai không xét xử và vô hạn định trên miền Bắc giờ trên cả miền Nam. Hôm nay một ngày cuối năm năm 1975, Vĩnh và bạn bè bắt đầu được hưởng những cái siêu đểu ấy.

Khác với ước đoán của mọi người, người đầu tiên được cách mạng chọn lên sân khấu phát huy quyền làm chủ bản thân và tập thể -- có nghĩa là để tự chửi và tự tuyên cho mình một bản án cụ thể -- không phải là một tay sừng sỏ, mà lại là ông Thiệu, kẻ mù chữ duy nhất sót lại ở miền Nam. Ông Thiệu được tổng quản giáo Quỳnh xướng tên và phải xướng đến ba lần ông mới biết mình được cách mạng chiếu cố. Khi đã biết bị gọi mà ông vẫn ngần ngại mãi chưa dám đứng lên, có lẽ là sợ không biết đứng lên rồi sẽ nói gì. Nhưng những người chung quanh thúc ông đứng dậy, và nhanh chóng dẹp lối cho ông bước ra con đường giữa hội trường. Ông vừa bước vừa đưa đôi mắt hoảng hốt nhìn anh em hai bên như cầu cứu. Sau cùng ông cũng bước lên sân khấu. Tên Quỳnh có vẻ bực mình thấy ông lê mề. Hắn nói lớn trên máy, "Gớm, xưa lùng diệt cách mạng thì nhanh như cút, học tập phát biểu thì cứ ngập ngà ngập ngừng như gái bị ép duyên." Ông Thiệu bước tới. Quỳnh dặn riêng ông vài điều trước khi nhường máy vi âm cho ông. Thốt nhiên trên sân khấu vang lên những tràng pháo tay. Bọn cai tù đang hè nhau tặng ông một sự khuyến khích đểu cáng. Bên dưới nhìn lên, cái dáng gù gù bé nhỏ của ông Thiệu trông lạc lõng thê thảm như một con sẻ lọt giữa bầy diều hâu.

Rồi giọng ông Thiệu run run phát qua hệ thống loa, "Thưa tôi là. . . Thiệu." Ông lại ngập ngừng. Anh em khối 2 biết rõ tại sao ông ngập ngừng. Ông ngập ngừng vì tên ông cũng là Nguyễn văn Thiệu. Nhắc lại cái tên ấy nơi đây, trong hoàn cảnh này, rõ ràng ông không thấy thoải mái. Mãi một lát ông mới tiếp, "Tôi là tổ viên tổ A.10. Khối trưởng của tôi là anh Trai, khối phó của tôi là anh bác sĩ Ðỉnh, tổ trưởng của tôi là. . ." Ông lại phải ngưng vì tên Quỳnh chồm tới nói gì đó vào tai ông. "Kính thưa các anh quản giáo," ông tiếp, "kính thưa toàn thể anh em cải tạo viên, kính thưa. . ." Ông giơ ngón tay gãi trán. Có lẽ chưa kịp tìm ra một đối tượng nào khác để tặng chữ kính thưa vừa phát ra, mà để đó lâu thì không tiện, ông đành tặng đại, "kính thưa cách mạng. Hồi xưa, hồi 49, 50, tôi còn ở Ðiền Hộ. Tôi sinh ra ở đó và cũng lớn lên ở đó. Tôi chăn trâu cho phú hộ. Ðến năm 1950 tôi đã lớn quá người ta không cho tôi chăn trâu nữa. Tôi đã sống bằng đủ thứ nghề trên con sông Phát Diệm đỏ ngầu. Thế rồi tôi đi theo một người chú ruột ra Hà Nội. Chú tôi làm nghề nấu rượu lậu. Chú tính cho tôi học nghề tài xế rồi mánh mung cho tôi vào lái xe ở phủ thủ hiến, trước ấm thân sau nuôi được mẹ được em còn ở lại Phát Diệm. Rồi chẳng hiểu số phận run rủi ra sao, tôi đi lính. Rồi tôi được đưa ra chiến trường Ðiện Biên. Sau đó tôi bị cách mạng bắt đem giam ở liên khu tư. Tôi cũng được cải tạo như bây giờ. Tôi cải tạo tốt và đã được hứa cho về làm nghề lương thiện nuôi mẹ nuôi các em. Bỗng một sáng cách mạng đem tôi trả cho tây. Tây đem tôi lên tàu bay chở thẳng vào Nam, nhanh đến không kịp cho tôi tìm ra cách từ giã mẹ và các em tôi."

Ông Thiệu nói một hơi, giọng kể mỗi lúc mỗi thêm ngậm ngùi. Ở dưới anh em tù các khối khác thầm thì với nhau, cho rằng thằng cha này quả siêu kịch sĩ. Riêng Vĩnh và các bạn khối 2 biết rõ ông Thiệu không kịch. Ông đang ê a kể lại một cách vô cùng thành thật cuộc đời ông, đời của một Moritz Giờ Thứ 25 Việt Nam.

Trên sân khấu ông Thiệu vẫn tiếp tục, "Vào tới Nam một thời gian ở căm chỉ ăn và chơi. Nhưng tôi không ăn chơi được. Tôi rất nhớ quê hương, nhớ mẹ và các em tôi. Làm sao về Bắc bây giờ? Tôi tự hỏi nhiều lần nhưng không tìm ra câu trả lời. Rồi 54 và hiệp định Giơ-Ne-Vơ ra đời. Lúc ấy qua bạn bè tôi biết nhanh lắm cũng hai năm nữa tôi mới về được khi tổng tuyển cử đã xong. Một thời gian sau tôi được đưa sang phục vụ ngành Thông Vận Binh. Chỉ huy trưởng của tôi là đại tá Xồi. Tôi được đi học làm tài xế, đúng cái nghề tôi mơ ước từ ngày còn ngồi lưng trâu ở Ðiền Hộ. Hơn hai mươi năm qua tôi đã lái quân xa qua nhiều đơn vị, và đơn vị sau cùng là cục Trung ương Tình báo. Tôi lái xe thư. . ."

Ông Thiệu lại phải ngưng ngang vì tên Quỳnh chồm tới sau lưng ông. "Vào đề đi," hắn giục. "Vào đề đi, tại sao tôi chống cộng."

Nghe nhắc, ông Thiệu hơi ngẫm nghĩ, rồi tiếp, "Tôi chống cộng vì cộng sản pháo kích các thành phố, giật mìn đường rày xe lửa, chận đường đắp mô và thu thuế dân lành," ông tằng hắng. "Giờ cách mạng vào tạo điều kiện cho tôi về đây học tập tôi mới biết tôi đã sai trái thật nhiều. Cách mạng không hề làm những việc ác ôn ấy. Ðó chỉ là hành động cá biệt của bọn Mặt trận Giải phóng mà thôi."

Câu phát biểu khiến anh em bên dưới điếng hồn giùm ông. Ðám quản giáo thầm thì với nhau. Tên Quỳnh sau khi hội ý chớp nhoáng với quản giáo Cư, quày quả tiến lại gần ông Thiệu. Hắn kéo máy vi ấm lệch về phía hắn, và nói, "Anh Thiệu trình độ văn hoá có thấp nên phát biểu chưa đạt yêu cầu. Anh có nhiều lầm lỗi kỹ thuật trong nhận thức, nhất là chưa hiểu được thượng tầng kiến trúc hạ tầng cơ sở của cách mạng trong cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước vừa qua. Theo đề nghị của đồng chí quản giáo khối, anh Thiệu có thể chấm dứt phần phát biểu ở đây, và đề nghị tối nay tổ anh Thiệu sẽ họp để giúp đỡ anh điều chỉnh lại những nhận thức còn lệch lạc, không phù hợp với thực tế."

Có lẽ thấy rằng còn để ông Thiệu phát biểu còn có thể lâm tình trạng lợi bất cập hại thêm nữa, do đó tên Quỳnh cắt ngang, không buộc ông phải tự đưa ra cho mình một con số thời gian cải tạo cụ thể. Hắn xua tay tỏ ý bảo ông trở về chỗ, rồi như để khỏi mất thì giờ, hắn xướng tên người phát biểu thứ hai, "Anh Ðặng Thế Tiến, cải tạo viên khối 4."

Vĩnh nhìn sang phía khối 4. Tiến đã nhanh nhẹn đứng lên. Hắn nhún vai cười nhẹ với các bạn ngước nhìn, ý bảo, "Ðừng có lo." Tiến bước lên sân khấu và đến trước máy vi âm. Tên Quỳnh chưa chịu nhường ngay máy cho Tiến mà nhìn Tiến cười cười, rồi nói, "Riêng anh Tiến đây tôi cũng muốn có đôi lời giới thiệu đặc biệt với các anh. Tôi biết anh Tiến từ trước ngày cách mạng thành công. Anh Tiến lúc ấy đang là một thành viên của phái đoàn nguỵ quyền trực tiếp ngồi cãi tay vo với cách mạng trên bàn hội nghị. Cũng ngoan cường ra phết. Nhưng hiện nay qua học tập, qua các bản tự khai, cách mạng ghi nhận anh Tiến đã có nhiều biến chuyển tốt, đặc biệt đã thành tâm khai báo tất cả tội ác đã phạm với cách mạng với nhân dân. Tôi có vài lời đặc biệt thế này không ngoài mục đích biểu dương anh Tiến trước tập thể, và luôn thể nhắc anh phải ý thức cho đúng vị trí cải tạo viên trong phát biểu hôm nay." Sau khi tố Tiến một lá bài, Quỳnh quay nhìn Tiến như để dằn mặt, rồi bảo, "Bây giờ anh Tiến phát biểu."

Vốn quen ăn nói, Tiến không lúng túng với bạn trước mặt và kẻ thù sau lưng. Hắn bình tĩnh sửa lại máy vi âm cho ngay ngắn, và bắt đầu, "Thưa tất cả các anh em," hắn nói. "Hôm nay được sự chiếu cố đặc biệt của ban quản giáo, tôi có dịp được phát biểu trước anh em đề tài ‘Tại sao tôi chống cộng, và qua học tập tôi đã chuyển biến thế nào.’ Tôi cũng xin thưa trước với anh em đây là một đề tài vô cùng trọng đại, nó có nhiều dây mơ rễ má đến tận cùng ý thức, và để nói cho hết, tôi nghĩ tôi cần nhiều buổi hoặc nhiều ngày để thưa chuyện với các anh em. Nhưng trên đã quy định giới hạn mỗi người phát biểu chỉ từ năm đến mười phút nên tôi xin đi ngay vào vế một để không mất thì giờ." Khẽ bẻ bão hai bàn tay, Tiến tiếp, "Thưa các anh em tôi sinh năm 1945 ở Hà Nội. Trí nhớ tôi về dĩ vãng Hà Nội không nhiều hơn cái trường tiểu học Ðặng Thái Sơn, và xa hơn tí nữa là cái ấu trĩ viên bên bờ hồ Hoa Le, nơi tôi từng ra chơi đùa. Một tí bánh tôm, một tí kem, những tiếng xịch tắc vang vọng trên những nẻo đường chiều vắng đầy lá thu vàng. Có cố gắng hết sức thì tôi cũng chỉ nhớ được đến chứng ấy. Rồi biến cố 1954 xảy ra. Trong đầu óc một cậu bé lên chín tôi không nhớ gì nhiều hơn cái cảnh ông bà tôi, bố mẹ tôi, hàng xóm tôi khuân hết đồ đạc ra trước nhà bán đổ bán tháo. Tôi còn nhớ mẹ tôi bán cả cái bàn thờ bằng lim hay gụ gì đó; cái bàn thờ đen bóng có cẩn những vỏ trai óng ánh đã in đậm nét trong tôi suốt thời thơ ấu. Rồi một sớm, bố mẹ tôi đem tôi lên xe chạy qua cầu Long Biên dài như bất tận. Tôi nhìn ra ngoài. Trời đầy sương mù. Tôi không thấy gì khác hơn những khung cầu đen ngòm đan vào nhau. Rồi phi trường Gia Lâm, rồi tàu bay cất cánh. Tôi thấy mẹ tôi khóc và bố tôi đôi mắt cũng đỏ hoe. Ðứa bé luôn luôn có quyền khóc theo mẹ nó chứ, phải không các bạn? Thế là mẹ tôi khóc năm thì tôi khóc mười, mẹ tôi khóc mười thì tôi khóc hai mươi. . ." Tiến ngưng một chút, lại bẻ bão tay, lại tiếp, "Thời gian trôi qua tôi lớn dần lên ở miền Nam. Cũng như tất cả các bạn tôi được hấp thụ nền văn hoá của miền Nam, một nền văn hoá rất nhiêu khê, thật là độc tài phát xít; nó buộc người ta phải đau đầu đau óc biết tất cả những gì xảy ra từ thời xuân thu chiến quốc bên Tàu, từ thời Homère còn tập tễnh làm thơ. Nó còn bắt người ta biết đến cả những sỏi đá trên mặt trăng cơ cấu ra sao, những lời chàng Roméo tán tỉnh nàng Juliètte thế nào vân vân và vân vân. Chao ôi, thật là phí cả một thời son trẻ. Thay vì đi làm cách mạng như các anh quản giáo đây thì tôi cứ lo dí mũi vào sách với vở. Tệ hơn, vừa mười tám tuổi, cái tuổi mà các anh quản giáo và vệ binh còn trong trắng như các thiên thần, chỉ một lòng nghe theo lời bác gọi, thì tôi, một tên sinh viên miền Nam, đã vừa học lại vừa tập tễnh xem báo Pờ-lây-boi, xem hình ba mươi sáu kiểu một cách rất là hồ hởi phấn khởi."

Bên dưới bạn tù bắt đầu ngứa ngáy lỗ tai. Vĩnh cũng thấy ngại cho Tiến. Mới đầu Vĩnh khoái trá vì thấy Tiến không hẹn mà gặp, đã dùng đúng chiến thuật câu dầm như anh dự liệu, nhưng giờ thấy Tiến lái câu chuyện đi xa quá anh đâm lo. Vĩnh để ý bọn quản giáo. Anh hơi yên tâm vì có nhiều dấu hiệu cho thấy Tiến đang lôi cả lũ đười ươi ấy vào mê hồn trận. Dù sao không ai chê được lối kể chuyện của Tiến.

Bên trên sân khấu Tiến đủ khôn ngoan để không biến câu chuyện của mình thành chuyện tiếu lâm. Hắn lái, "Phải thú nhận rằng đến năm tôi ra đại học là năm hai mươi hai tuổi, tôi chưa hề có một khuynh hướng chính trị rõ rệt. Tôi vẫn nghĩ quốc gia hay quốc tế thì cũng chỉ là những danh từ. Bố tôi lôi tôi vào Nam có lẽ cũng chỉ vì sợ bóng sợ gió. Quốc gia thì cũng là người Việt cai trị người Việt, cộng sản thì cũng là người Việt lãnh đạo người Việt; ở đâu thì cũng phải lao động, mà lao động thì phải được trả công tương xứng. Tôi không tin ở đâu lại có một tập đoàn chính trị cai trị đồng bào bằng đường lối của thời trung cổ dã man, hoặc đem danh dự Tổ quốc và quyền lợi nhân dân đặt dưới chân một thế lực ngoại bang vì bất cứ lý do gì. Ðùng một cái, trong cái biển sách báo ngoại quốc phản động bày bán trên các lề đường miền Nam, tôi đã vô tình đọc được vài số, trong có đăng ảnh một cuộc biểu tình dâng kiến nghị lên chính phủ đòi giải phóng miền Nam của nhân dân Hà Nội. Tôi đọc phớt qua và thấy rằng: A, thế ra ngoài Bắc cũng tự do dân chỉ ra phết đấy chứ. Nhân dân cũng được tụ tập biểu tình dù là để dâng kiến nghị ủng hộ. Sinh hoạt như thế có khác gì miền Nam đâu. Tuy nhiên, khi xem kỹ những tấm ảnh tôi mới ngã ngửa. Trong ảnh tôi thấy gì? Tôi đã thấy nhân dân Hà Nội biểu lộ quyền tự do dân chủ của họ qua cuộc tụ tập biểu tình, nhưng tại sao, vâng, tại sao trong cuộc biểu tình dâng kiến nghị đòi giải phóng miền Nam, bên cạnh ảnh Hồ chủ tịch giơ cao lại có cả ảnh ông Lenin, ông Stalin và ông Mao Trạch Ðông? Trong đầu óc non nớt của một thanh niên thời đó tôi đã xúc động và bất mãn vô cùng. Tôi tự nhủ người ta có quyền suy tôn lãnh tụ. Miền Nam cũng suy tôn lãnh tụ. Nhưng, sự khác biệt giữa hai miền Nam Bắc là chưa bao giờ tôi thấy trong các cuộc biểu tình ở miền Nam người ta lại giơ cao ảnh Kennedy, Johnson hay Nixon; thế vì đâu miền Bắc lại phải lôi cả quý ông Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông vào cuộc biểu tình nội bộ của đất nước mình?" Tiến ngưng nói. Hắn giơ hai tay trước mặt ra chiều luyến tiếc một điều gì, rồi tiếp, "Thú thật đến ngày hôm nay tôi vẫn lấn cấn điều này, vì chính nó đã biến một thanh niên là tôi thành một sĩ quan quân đội miền Nam để cầm súng chống lại miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tôi đã nghĩ một nước mà người dân phải suy tôn đến cả lãnh tụ các nước bạn đến giúp mình thì nước ấy không thể nào có tự do, dân chủ, và độc lập được."

Cả hội trường im phắc với câu nói đanh thép của Tiến. Ðể tránh nguy hiểm và cũng để chiến thuật câu dầm thành công, Tiến lái thật khéo, "Thưa các anh quản giáo, thưa các bạn, đã có lúc tôi nghi ngờ đến xảo thuật ghép phim của bọn báo chí phản động phương tây; nhân đây, tôi thành khẩn xin các anh quản giáo, những người đại diện cách mạng, vui lòng khai sáng cho cá nhân tôi được biết rõ đâu là sự thật để tôi khỏi bị những lấn cấn làm ray rứt mãi. Tôi quả quyết ý nguyện duy nhất của tôi là chỉ mong được làm công dân của một nước Việt Nam thật sự độc lập, tự do, dân chủ, hạnh phúc và ấm no."

Tiến đã khéo đẩy đám quản giáo vào cái thế khó xử. Chúng không thể bắt lỗi anh vì anh đã dùng một lối diễn đạt đầy thành khẩn và nhỏ nhẹ. Tên Quỳnh đã sập bẫy khi hắn đứng lên bước lại bên Tiến. Chẳng những không trách gì việc Tiến nói một hơi nửa tiếng đồng hồ và chưa đi được tí gì vào vế thứ hai, hắn còn giơ tay vỗ như biểu dương Tiến, rồi bảo Tiến về chỗ.

Ðợi Tiến xuống khỏi sân khấu hắn mới nói, "Vấn đề anh Tiến đưa ra rất hay, rất thành khẩn và rất đáng được quan tâm giải quyết. Cách mạng đã có câu ‘tư tưởng không thông vác gối bông cũng nặng, tư tưởng mà thông vác cà-nông cũng nhẹ.’ Cũng vì tư tương không thông, anh Tiến đã nhảy vào hàng ngũ nguỵ quân chống lại cách mạng. Và cũng vì tư tưởng đã thông, chúng tôi đã hò kéo pháo đánh tan thực dân Pháp trong trận Ðiện Biên Phủ giành lại độc lập tự do cho đất nước, đã thực hiện cuộc kháng chiến thần thánh đánh tan đế quốc Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam. Từ thực tế ấy, cách mạng đã đặt tư tưởng lên khâu then chốt: Tư tưởng chỉ đạo hạnh động. Và cũng từ thực tế ấy, cách mạng đã đề ra chính sách cải tạo tư tưởng cho những người lầm đường lạc lối, một chính sách sáng tạo nhất, khoan hồng nhất, nhân đạo nhất, cấp thiết nhất, có tình có lý nhất, và cũng toát lên tính ưu việt của đảng ta nhất."

Sau khi lôi ra một thúng đầy những cái nhất, Quỳnh trở lại vấn đề chính, "Sự thắc mắc anh Tiến đã thành khẩn nêu ra, xét chung, cũng là sự thắc mắc của tuyệt đại đa số các anh ngồi đây. Vậy thì, thay mặt khung tôi cũng giải đáp để các anh quán triệt thế này: Ðể hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, phải nói rằng với trình độ của các anh hiện nay chưa thể hiểu được. Các anh cần phải có một thời gian học tập tối thiểu ba năm, năm năm, bảy năm hay lâu hơn nữa mới có thể. Việc giác ngộ chủ nghĩa cộng sản còn tuỳ khả năng nhận thức và tiếp thu của từng người. Nói cách khác, hiện các anh vẫn bị lấn cấn giữa hai cái khâu bản chất và hiện tượng. Các anh thấy cuộc biểu tình của nhân dân ta ngoài thủ đô Hà Nội phô hình các chủ tịch vĩ đại Lê-nin, Xta-lin-nờ và Mao Trạch Ðông bên cạnh chân dung bác kính yêu đã vội bất mãn, đã vội khẳng định rằng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà không có tự do, không có độc lập. Ðây là một lầm lẫn ở bước đầu cơ bản, phát xuất từ hậu quả của một đường lối giáo dục tư sản ích kỷ và tuyên truyền xuyên tạc của các nguỵ quyền phản động. Hiện nay, tôi chưa thể nói nhiều hơn về vấn đề này, chỉ tóm tắt vài điểm then chốt để các anh tạm thời đả thông những khúc mắc; sau này, từ từ các anh sẽ được giáo dục nhiều hơn và sẽ yêu hơn chủ nghĩa cộng sản. Vậy chủ nghĩa cộng sản là gì? Là một chủ nghĩa mới nhất và sau cùng nhất. Nó hội đủ tính sáng tạo, tính ưu việt, tính khoa học, tính anh hùng. Nó. . ."

Cuối hội trường bỗng ầm lên một tiếng. Hoá ra một cái băng ghế bị gãy, một đám tù ngã dúi vào nhau. Trong khi chờ trật tự trở lại, Ðính thở dài với Vĩnh.

"Sao lắm tính thế?"

Vĩnh cười.

"Lắm gì. Thiếu đấy."

"Thiếu?"

"Ừ, tính người."

Giọng tên tổng quản giáo lại oang oang tiếp trên loa, "Sao đến gãy ghế vậy? Các anh ổn định chưa? Tôi nhắc lại. Mục đích của chủ nghĩa cộng sản là nhằm thủ tiêu mọi biên giới cách biệt giữa các quốc gia, đồng thời vẫn tạo điều kiện phát huy triệt để đặc tính và truyền thống của các dân tộc. Nó là một chiến tuyến tổng hợp mọi giai cấp bị bóc lột, đoàn kết tạo sức mạnh đánh tan mọi thế lực phản động, đưa loài người đến một tương lai đại đồng sống hoà bình, hạnh phúc, ấm no chung. Ðể tiến đến một tương lai lý tưởng như thế, chủ nghĩa cộng sản phải có một sự đoàn kết phối hợp từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. Và các lãnh tụ của chúng ta, những lãnh tụ thiên tài như Lê-nin, Xta-lin-nờ, Mao Trạch Ðông, bác Hồ kính yêu. . . mà tài ba và đức độ của các ngài đã không còn thu hẹp trong một nước, nhưng đã trở thành mặt trời chói sáng trên loài người tiến bộ khắp năm châu, đã trở thành biểu tượng của sự đoàn kết lý tưởng, do đó, nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân ta, đều tỏ lòng kính yêu vô bờ bến, mà đã yêu vô bờ bến thì dù ở đâu các ngài vẫn được ngự trị chung trong trái tim của mọi người. Phô hình phô ảnh chẳng qua chỉ là một hình thức tỏ lòng kính yêu ấy mà thôi. Tôi bảo thật với các anh, các anh tưởng rằng nhân dân Liên xô không kính yêu bác Hồ của ta à? Tên bác đã được nhân dân Liên xô lấy đặt cho một con đường ngay tại thủ đô Mat-xcơ-va đấy."

Tên tổng quản giáo nói một hơi về chủ nghĩa cộng sản đáng yêu đáng kính của hắn, rồi như chợt nhớ ra điều gì, hắn nhìn đồng hồ tay và kết luận, "Bọn phản động đã lấy mực nước biển mà đo đỉnh núi cao. Tôi hy vọng trong tương lai, qua cải tạo, các anh đều được giải phóng mọi tư tưởng sai trái cũ để được dân tộc nói riêng và chủ nghĩa cộng sản nói chung đón nhận vào lòng."

Một tràng vỗ tay từ sân khấu vang lên. Bên dưới bọn tù cũng vỗ tay đáp lễ. Vĩnh ngồi suy nghĩ chuyện xưa chuyện nay. Chẳng hiểu bọn cán bộ nhà nước của thành Sparta hơn 500 năm trước Tây lịch có được đào tạo để nói như vẹt giống bọn cán bộ cộng sản Việt Nam ngày nay không. Mặt khác, chẳng lẽ lịch sử lại có trò tái diễn rập khuôn nhau dù đã cách nhau đến mấy ngàn năm? Một bọn lãnh đạo điên mê quyền bính, điên mê với cái trật tự xã hội cuồng bạo, đã. . . biến mỗi người dân thành một người lính. Con trai sinh ra yếu đuối bỏ chết trên đồi. Những đứa khoẻ mạnh nhà nước thu nuôi dưới một kỷ luật lính từ lúc lên bảy. Con gái thì được huấn luyện để trở thành mẹ chiến sĩ. Tất cả đều phải phấn đấu đến chết để trở thành anh hùng như các lãnh tụ luôn luôn vênh váo nghĩ mình là anh hùng. Khẩu hiệu mọi người dân phải thuộc nằm lòng là: "Tất cả phải hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi Tổ quốc!" Ðể thực hiện được lý tưởng này, bọn lãnh đạo đã cấm dân thành Sparta giao thương với nước ngoài (để tránh tiêm nhiễm tư tưởng tiến bộ xã hội), cấm du lịch (để không có ý niệm về sự so sánh giữa thiên đường và hoả ngục), cấm sống xa hoa (để thắt lưng buộc bụng cung phụng các lạnh tụ dưới bình phong phục vụ đất nước). . . Chẳng thể xác quyết giữa dân thành Sparta xa xưa và dân Việt ngày nay ai tăm tối hơn ai, nhưng Vĩnh vẫn có cảm giác hai xã hội giống nhau ở nhiều điểm lắm, giống đến độ hãi hùng.

Bên trên sân khấu, tên cán bộ thành Sparta thời mới, loại cũng được huấn luyện từ lúc. . . lên bảy, lại bắt đầu nói, "Bây giờ đã đến giờ nghỉ trưa. Qua nhận xét, cũng báo cáo các anh rằng thì là xét theo lượng ta có thể nói lần phát biểu sáng nay chưa đạt chỉ tiêu, nhưng xét theo phẩm thì đã đạt yêu cầu. Chiều nay và nguyên ngày mai, ban chỉ huy trại sẽ tiếp tục chỉ định một số anh nữa lên phát biểu. Yêu cầu trước mắt là các anh phải phát huy cái khí thế sáng nay, phát biểu thành khẩn và nghiêm túc đề tài đã được trên đề ra."

Tên tổng quản giáo Quỳnh ngưng giây lát. Hắn tính nói thêm gì đó nhưng chẳng hiểu sao lại thôi. Sau cùng, hắn gọi liên khối trưởng Lượm lên sân khấu, dặn dò vài câu. Lượm gật gù vâng dạ rồi bước tới trước máy vi âm, nói, "Ban quản giáo đề nghị anh em cùng hát to một bài trước khi về ăn trưa. Tôi nhấn mạnh, theo ý trên các anh phải hát cho thật khí thế bão nổi và vỗ tay cho thật đều. Bây giờ tôi bắt nhịp bài ‘Bão nổi lên rồi’. . . Bão nổi lên rồi hai ba. . ."

Bên dưới, đói và mệt khiến lũ tù hát theo một cách rời rạc ngược hẳn với nội dung bài hát.

Vĩnh che tay ngáp vặt. Anh nghĩ tới cảnh chia cơm chia canh, nghĩ tới những con ruồi, nghĩ tới khoảng thời gian không có cái mốc trước mặt.
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1