Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA


Ðại Học Máu
 
CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT

Nếu lịch sử đã biến bọn cán binh CSVN thành những tên hề vô duyên trước mặt hơn mười bảy triệu dân miền Nam sau biến cố 30-4-1975 thì lịch sử cũng tặng bọn rau-răm-ở-lại một dịp may bằng vàng để cảm nhận được cách sâu xa câu nói của một sử gia phương tây, "Lịch sử sẽ được viết lại bởi những kẻ chiến thắng, chuyện của người chiến bại sẽ hoàn toàn bị xuyên tạc." Trong sự xuyên tạc ấy, tuy nhiên, có điều đau đớn là kẻ thù lại nói khá đúng về những lãnh tụ cá mập, những chính khách hoạt đầu, những tướng lãnh đê hèn. Chúng nói thế nào về bọn lãnh tụ cá mập? Là bọn ăn cắp, lì lợm, vô lương tâm. Chúng nói thế nào về bọn chính khách hoạt đầu? Là bọn tưởng bở lập lờ thoả hiệp, bọn trí thức bằng cấp ngập đến răng nhưng đụng trận thực tế ngu hơn con bò. Chúng nói thế nào về bọn tướng lãnh chưa đánh đã bỏ chạy? Là bọn tư cách và danh dự quân nhân còn thua cả một anh tân binh quân dịch. Hỡi ơi, điểm này kẻ thù lại nói gần như y chang, cãi thế nào được. Nhưng điều mà chúng nói về những người ở lại để chiến đấu, để còn nước còn tát, để không tự hổ với lòng mình rằng mình là thằng chỉ huy bỏ rơi đơn vị, bỏ rơi em út chạy lấy thân thì chúng đã xuyên tạc thế nào? Chúng đề quyết rằng họ là những kẻ liều thân giữ của, tiếc vợ năm vợ bảy, bọn ếch ngồi đáy giếng vì trình độ chưa... đọc nổi chữ in.

Cái thủa ban đầu, với sự tự tôn mặc cảm, việc trả thù coi vậy mà còn nhẹ tay. Nhưng thời gian trôi qua, (ôi thời gian, tên chỉ điểm đốn mạt nhất) đã tố giác với chúng con người thật với giá trị thật của bọn sa cơ thất thế. Và khi biết rằng sự thật không phải bọn "nguỵ" là bọn có trình độ không đọc nổi chữ in như lời đảng tuyên truyền xuyên tạc nhiều chục năm, mà khác, khác xa, khác đến độ đời thằng cai tù có sống thêm mấy kiếp cũng không thể đuổi bắt kịp những giá trị sống bọn tù đã được sở hữu; sự tự tôn mặc cảm từ đó chuyển dần sang tự ti mặc cảm. Bọn tù bắt đầu khốn nạn thật sự trước cái mặc cảm mới của bọn cai tù.

Khi các trại tù cải tạo với tình hình đã tương đối ổn định và đi vào nền nếp, nói theo ngôn ngữ cai tù, thì chúng cũng bắt đầu được đi phép Sài Gòn hoặc những thành phố lớn khác để khám phá ra rằng chiếc nón cối và đôi dép râu quả là một chướng ngại ghê gớm trong việc ăn mày tình cảm của người dân miền Nam. Ðây là những lần đầu trong đời nhiều kẻ biết được mùi tủ kính của các cửa hiệu; được dịp đếm mỏi cổ những tầng cao ốc; được biết mùi "cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc"; được dịp lùng mua cho bằng được một cái đồng hồ Seiko "có cửa sổ, không người lái, có đèn nháy và chạy cả năm"; được há hốc cái mồm răng vẩu nhìn người đẹp thành thị miền Nam thướt tha yêu kiều, dù bây giờ họ có vẻ hơi lười biếng cười đùa, nhưng ô kìa, họ biết lái cả "ô tô con" và "xe bình bịch" nữa chứ!

Vâng, bọn cán binh cộng sản từ rừng rú được trực tiếp đưa vào làm cai tù nơi các trại giam cũng trong rừng rú, sau những lần đi phép như thế, đã bắt đầu được nhìn thấy một phần sự thật về miền Nam, về con người tự do ở miền Nam. Trong cái đầu dầy đặc đêm tối của sự cuồng tín liệu chúng có nảy ra được tí so sánh nào giữa hai miền Nam Bắc? Có khởi sự nghi ngờ những lời tuyên truyền nhồi sọ xuyên tạc miền Nam đã kéo dài mấy chục năm? Có thánh biết được khi cửa mồm chúng đã biến thành cái máy nói dối tự động dù bất cứ ở đâu với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì. Ngoài Bắc ư? Cái gì cũng có, cũng to, cũng tốt cả.

"Có TV không?"

"Ồ, có chứ, chạy đầy đường."

"Có máy lạnh không?"

"Gắn đầy công viên."

"Có cà rem không?"

"Ồ, thu hoạch ăn không hết phải đem phơi khô xuất khẩu."

Nếu viết hết những câu đối thoại đại loại trong một cuộc hạnh ngộ nào đó giữa hai người thuộc hai chế độ quốc cộng ở Việt Nam vào giai đoạn sau 30-4-1975 có thể cần một quyển sách dày; và nếu những mẩu đối thoại ấy được cắt riêng ra rồi dịch sang một thứ tiếng khác cho người ngoại quốc đọc, hẳn họ sẽ điên lên mà kết luận rằng: Nếu dịch giả không là tay bá láp, thì qua những mẩu đối thoại này, kẻ trả lời chắc chắn phải điếc trăm phần trăm.

Tự ti mặc cảm, hậu quả tất yếu và phổ quát cho những kẻ có lồng ngực giam hãm một quả tim lạc hậu hèn kém, được che giấu bằng một bộ mặt cách mạng tiên tiến. Cộng sản, dù cộng sản tây hay cộng sản ta, cộng sản Nga hay cộng sản Tàu, hãy mổ ngực chúng ra mà xem, quả tim triệu thằng như một. Của đáng tội không mặc cảm sao được khi chúng đã biết quá rõ mình cầm bằng thua địch thủ mọi mặt dẫu nay nó có sa cơ thất thế không do hèn kém mà do những nguyên uỷ sâu xa chính chúng thừa biết. Một trang nhật ký có lẽ bị xé vội vã và dùng lầm chỗ của tay thượng uý trại trưởng L4T3 đã bị đám tù đi dọn cầu tiêu trên ban chỉ huy trại nhặt được. Trang nhật ký viết, "Ba mươi năm theo đảng, đảng đã trang bị cho tôi những gì? Phải chăng chỉ một kiến thức thua cả thằng lính nguỵ, một đời sống kinh tế không bằng một tên phu xe trong xã hội đối phương?!" Chỉ hăm bốn tiếng sau nội dung và tác giả trang nhật ký được lan truyền khắp trại. Bọn cán bộ điên đầu. Và kẻ điên đầu nhất tất nhiên phải là tay thủ trưởng. Chúng lồng lộn truy tìm tác giả cái tin "xuyên tạc" nhưng mãi không ra, đành dùng biện pháp còn lại là... trừng trị tập thể. Thế là chúng ra tay quần thảo bọn tù gần chết với những công tác lao động khổ sai kèm những lời mạt sát thậm tệ. Ðể trả đũa, bọn tù không còn vũ khí nào khác hơn là sự châm biếm. Giai đoạn này sản sinh vô số chuyện châm biếm sự ngu dốt của cai tù do tù sáng tác. Vẻ huênh hoang của bọn cai tù ngày đêm bị những bầy ong vô hình châm chích túi bụi. Chúng bắt đầu rút vào thế thủ nhưng bầy ong vẫn gia tăng; châm biếm càng gia tăng thì thù hận của những kẻ tự ti mặc cảm càng dâng cao; thù hận càng dâng cao thì chúng càng siết chặt hơn mọi thứ; và sau cùng, nghệ thuật siết tuyệt vời nhất của cộng sản vẫn là: Ông cho chúng mày đói xem chúng mày còn châm biếm được nữa hay không!

Kể từ sau đợt học tập chính trị vào cuối năm 1975, tù cải tạo L4T3 thực sự đói lê lết. Theo lý thuyết mỗi người có trực tiếp tham gia lao động được hưởng mỗi ngày năm lạng gạo. Ai bệnh ăn cháo. Tuy nhiên, trên thực tế mỗi bữa mỗi người chỉ được phát trên dưới hai bát cơm nấu bằng gạo mục mọt (đã chôn giấu nhiều năm trong rừng). Khẩu phần có thể được phát kèm thêm dăm ba cọng muống già, hoặc miếng củ cải luộc, miếng bí ngô luộc bằng hai đốt ngón tay thêm tí nước muối đen như nước cống. Chất béo chất ngọt tuyệt nhiên đã bị cắt hẳn ngay từ tháng thứ hai.

Trong khi bọn cán binh bắt đầu tuần tự đạt được giấc mộng lớn là có xe đạp, có đồng hồ đeo tay, có tí kính dâm đeo mắt (trông y một lũ thầy bói!) thì cũng là lúc lũ tù bắt đầu phù thũng và kiết lị. Ôi thật là một hoả ngục trần gian. Một khối 120 người kiết lị hết năm mươi. Bảy mươi còn lại thì hết bốn mươi phù thũng. Kiết lị bò trên đất. Phù thũng cõng kiết lị. Kiết lị làm bậy trên lưng phù thũng. Phù thũng lây kiết lị. Khối 120 người giờ hết chín mươi vừa phù thũng vừa kiết lị. Hai mươi còn lại đều thấp thỏm chờ con ma kiết lị ghé thăm bất cứ lúc nào. Riêng mười đứa chưa được kể tới chính là những đứa may mắn nhất vì đã được cách mạng cho... chôn có hòm (*).

Dù bệnh tật nhưng nếu chưa da bọc xương, chưa đến độ ruồi bâu không thèm đuổi thì vẫn phải thi công lao động như thường. Nằm lỳ ở nhà ư? Ðâu có dễ như vậy. Vả chưa chết thì thôi, ai lại nỡ để bạn bè suốt ngày lao động quần quật, đêm về lại phải theo lệnh quản giáo đốt đèn lên để phân tích, mổ xẻ, đấu tranh, giúp đỡ mình khắc phục những khuyết điểm chai lười lao động, buộc mình phải đề ra phương hướng mới, phải phấn đấu học tập lao động để sớm trở nên người công dân lương thiện. Cái đức tính gan lì ì ẩu, nói cho cùng, khó mà thi thố nổi trong trại tù cải tạo cộng sản. Nói chung chưa chết thì vẫn phải tham gia lao động. Người khoẻ thì đi phát quang, đi phá nền nhà Mỹ, đi đào ao đào giếng, đi xây dựng các doanh trại cho bộ đội, đi khuân đạn. Người yếu thì đấy, cả một phi trường bao la đấy, cứ việc ngồi một chỗ, tay cầm đục tay cầm búa để đục xuyên những lớp nhựa cứng tạo những lỗ đủ sâu đủ rộng cho những gốc bí ngô. Chỉ tiêu cho người bệnh đào đất trồng bí ngô theo quy hoạch của trung đoàn không nhiều lắm: Hai mươi lỗ mỗi ngày thôi, và ngồi dưới trời nắng Tây Ninh từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, rồi từ 1 giờ trưa đến 6 giờ chiều. Có khi ngồi luôn từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều nếu làm việc thông tầm.

Trong khi đi lao động như thế, bọn tù từ mạnh đến yếu đã đi với phong thái nào? Một con mắt thì rình rập xem có con cóc con nhái nào không; mắt kia thì giáo giác lo tìm mớ cỏ mực, cỏ hôi hay vú sữa đất đem về sắc cho nhau uống chữa bệnh kiết lị.

Trong khi ấy ở tại trại, tổ anh nuôi như muốn điên lên trước lũ chiến hữu phù thũng. Mặt đứa nào đứa nấy trông như quả dưa bở chín rục, tay chân bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi ba ngày, đang xếp hàng dài trước bếp đợi xin chút nước vo gạo. Họ uống tí nước vo gạo ấy với hy vọng mong manh chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù trầm kha. Nhìn đám phủ thũng xếp hàng xin nước vo gạo làm nhiều người lớn tuổi nhớ đến lũ người ốm đói 45 xếp hàng trước các nhà chung chờ nắm cơm phát chẩn.

Chính sách để cho phù thũng kiết lị đòi nợ máu giùm nhân dân đã được xét lại khi trực trùng Amibe ghé hỏi thăm luôn đám cán binh trại. Chúng bắt đầu buộc phải phát thuốc cho tù khi đã có vài thằng bộ đội bò sang bên kia thế giới. Ông Tuyên, tù nhân bác sĩ, người được bọn quân y tiểu đoàn giao trọng trách bảo vệ sức khoẻ anh em, mỗi sáng lên phòng phát thuốc tiểu đoàn đem về vài chục viên Granidan và một ly cối thuốc nước B1 (không biết được chế bằng chất gì mà vàng đục như nước tiểu!) Tù nhân kiêm bệnh nhân từng khối, trước giờ xuất quân lao động, xếp hàng dài để được Tuyên đặt vào miệng một viên Granidan nếu kiết lị hoặc nhấp chút B1 nếu phù thũng. Từ xa ngó tới, nhìn vẻ kính cẩn thành khẩn của người phát lẫn người nhận thuốc, người ta có thể tưởng lầm đó là quang cảnh một lễ misa ngoài trời, và vị linh mục đang cho các con chiên chịu mình và máu thánh Chúa.

Tuy nhiên một viên thuốc đau bụng Granidan và vài giọt B1 làm sao trị nổi bệnh kiết lị và phù thũng lúc nó đã trầm trọng? Hình như cộng sản chỉ có một chế độ công bằng duy nhất và không nặng tính giai cấp cho lắm (tất nhiên phải trừ giai cấp lãnh đạo và cán bộ ra), là chế độ mai táng. Quả thế, mai táng chỉ là hành động dập vùi cho xong đối với tù và cả bọn vệ binh coi tù. Thân xác sẽ được trở về với cát bụi nơi một bìa rừng hay một cánh đồng hoang nào đó và thân nhân sẽ không bao giờ được thông báo. Vợ sẽ suốt đời chờ chồng. Mẹ sẽ suốt đời chờ con. Anh sẽ suốt đời chờ em. Khốn khổ thay cho những người còn sống ấy. Họ cứ mỏi mòn chờ mà đâu biết sự chờ đợi của họ là một việc làm vô ích nhất trong những việc vô ích ở trần gian.

Thuốc của bác đảng coi như đổ sông đổ biển. Bọn đầu não chắc đã được báo cáo rất kỹ cái việc lợi bất cập hại khi để mặc cho kiết lị hành hạ bọn tù. Thế là một chính sách mới ra đời: Chính sách gửi quà.

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà giầu mạnh muôn năm đã phải gián tiếp cầu cứu gia đình bọn "nguỵ" gửi thuốc vào chữa cho thân nhân để tránh cho chúng khỏi bị chết lây. Chính sách gửi quà dĩ nhiên cũng được mang một chiêu bài thật đẹp đẽ như mọi chiêu bài khác: "Ðể thể hiện lòng khoan hồng nhân đạo của cách mạng, cách mạng cho phép gia đình các cải tạo viên gửi đến thân nhân đang học tập cải tạo mỗi người ba cân quà và thuốc men." Tuy nhiên, chính sách này không tiến hành ngon ơ cho bọn tù. Trước khi được gửi thư thông báo gia đình, họ phải trải qua nhiều tai kiếp. Tai kiếp đầu tiên là phải học tập thảo luận gù lưng các nội quy quy định việc viết thư, sau đó còn làm bản thu hoạch và cam kết.

Bốn ngày học tập thuỵ kỳ chung xoay quanh mấy điểm: (1) quà không được gửi quá ba cân; (2) thư viết về phải nói những gì có lợi cho cách mạng, gia đình và bản thân, đặc biệt phải ngắn gọn trong vòng một trang để quản giáo không mất nhiều thì giờ kiểm duyệt; (3) tuyệt đối không được viết tiếng nước ngoài, không được tiết lộ địa điểm học tập, không được kêu ca, không được dùng các ám hiệu dưới bất cứ hình thức nào, tên các loại thuốc tây phải phiên âm sang tiếng Việt để quản giáo đọc được.

Những ngày kế bọn tù bò lê ra để tập viết những bức thư kêu cứu gia đình bằng ngôn ngữ cách mạng. Ngoài bì thư, nơi địa chỉ người gửi chỉ được ghi vỏn vẹn một bí số "Hòm thư L4T3."

Khi thư đã được thu nộp quản giáo thì tai kiếp kế xảy đến cho chung các khối.

Ðã ở tù cộng sản thảy đều có thể đồng ý rằng chốn này là một môi trường lý tưởng cho sự phát triển mạnh những bản năng thấp kém của con người. Trong điều kiện sống bị o ép tối đa về mọi mặt, bọn cán bộ biết khai thác và sử dụng một lưng cơm, một chén cháo, cao hơn chút nữa là một lời hứa được nhận nhiều hơn ba cân quà như tuyệt chiêu cho lắm tên tù ra tay sát hại đồng bạn. L4T3, khối 2, lại lần nữa khốn khổ về hệ thống ăng-ten của Ba Tô. Mỗi ngày đi lao động về nó mắc cái võng nằm ngay hông phòng, nơi có thể quan sát được cả nhà ngủ, nhà bếp và mọi xó xỉnh khác của khối. Không một lời nói, một hành động khác thường nào xảy ra trong khối mà quản giáo Cư không biết. Dĩ nhiên chưa ai nhìn thấy hậu quả của những người bị báo cáo, nhưng điều chắc chắn là thư của họ sẽ không được chuyển đi mà sẽ biến thành đóm thuốc lào hay giấy chùi khu cho đám vệ binh tiểu đoàn.

Riêng Vĩnh thế sự lúc này coi như bỏ ngoài tai. Chẳng còn gì khiến anh phải bận tâm hay sợ hãi. Ðúng hơn anh đang biến thành thứ mà ai cũng sợ hãi, kể cả Ba Tô và mấy đứa râu ria ẩn mặt của nó. Anh đang giữ chức quán quân về bệnh chốn này. Ngoài bệnh bao tử vốn chỗ cố tri, bệnh ghẻ tuy không trầm trọng bằng nhiều người khác, nhưng phù thũng và kiết lị thì có hạng cao, chưa kể bệnh sạn thận hành hạ chết ngất nhiều phen. Niềm hy vọng của anh lúc này là chỉ mong sao mỗi chiều lao động về anh em kiếm giùm được ít hoa lá cành củ sắc uống. Ðính đi lao động trung đoàn cậy được một miếng vỏ cây đại già và nó là món thuốc chữa sạn thận của Vĩnh. Nước vỏ đại đắng không thua bồ hòn, uống vào ruột gan tê dại. Anh em ai cũng khuyên thuốc đắng dã tật, nhưng uống năm lần bảy lượt đái ra máu vẫn hoàn đái ra máu, cho đến một lần đau thừa sống thiếu chết anh mới tiểu ra được một viên sạn bằng nửa hạt ngô, nhưng vừa lúc ấy lại dính kiết lị.

Kinh nghiệm trong tù cho thấy những người bị kiết lị càng về sau càng nặng. Và những anh to con lại là những anh bị con ma Amibe vật nhanh và thê thảm hơn ai hết. Ðiển hình là tay cựu cận vệ của tổng thống Thiệu bên khối 3. Hắn to và đẹp như Nguyễn Công Án, sức lao động bằng ba và sức ăn phải bằng năm người thường, thế nhưng chỉ sau hai ngày kiết lị con ma Amibe đã vật chết tươi không cứu nổi. Hay như anh chàng Phan Lâm cũng bên khối 3. Lâm nặng ít ra cũng tám chục ký. Hơn nửa năm tù có hao hụt giờ cũng phải còn bảy chục ký. Hắn dính kiết lị và cũng chỉ hai ngày sau đã nhão ra như cái mền rách. Vĩnh không thể nào quên được hình ảnh vài người bạn, trong có Nguyễn Ðình Tạc với vóc dáng không thua Phan Lâm, đã vất vả xúm lại xốc Lâm lên dìu ra nhà cầu, xong việc lại dìu về; cứ thế đi rồi về, về rồi đi cho đến lúc chẳng còn ai dìu nổi nữa và để mặc cho Lâm gần như ngồi suốt ngày trên cái thùng đạn kê ngoài hiên nhà. Vĩnh không to con như Lâm hay như cựu cận vệ tổng thống, nhưng như thế không có nghĩa anh không khốn khổ trước con ma cà rồng kiết lị. Chao ôi, mỗi ngày chạy lết ra nhà cầu khoảng bốn chục lần, chạy riết để sau cùng không còn chạy nổi, anh em phải mắc cho cái võng ngoài vườn cạnh những tay bệnh hạng nặng khác. Nằm võng ngó trời qua những nhánh cây Vĩnh chẳng nghĩ đến cái chết cũng chẳng nghĩ đến gia đình, chẳng tủi thân tủi phận cũng chẳng thèm uất hận như thủa ban đầu, mà lại nằm nghĩ đến những đề tài đang viết, viết trong óc và học thuộc lòng trong tim. Mỗi ngày hai bữa Ðính nhận giúp phần cháo đem ra cho Vĩnh. Anh không muốn ăn. Một phần sự tiêu chảy dữ dội đã làm mọi cơ phận trong người như tê dại đi, kể cả bao tử, nơi đẻ ra cái đói; một phần Tuyên suốt ngày bắt Vĩnh uống mấy cái thuốc... dân tộc kiểu bác Hồ, bụng dạ cứ chướng lên. Hai bát cháo có tí muối trắng, do đó, cao lắm chỉ đổ vào miệng anh vài thìa gọi là để làm vốn cho sự tiêu chảy triền miên. Chiều chiều đôi lúc có vài người bạn ghé thăm. Anh không buồn trò chuyện. Cũng có người thương Vĩnh, chạy đôn đáo trao đổi thứ này thứ nọ mong kiếm được cho anh ít thuốc đau bụng. Một chiều Tuyên đem lại cho anh bốn viên Chloroquine -- loại thuốc ngừa sốt rét của Mỹ -- và khuyên Vĩnh uống.

Vĩnh thều thào:

"Thuốc ngừa sốt rét mà."

Tuyên buồn rầu:

"Biết, nhưng tôi để ý thấy nhiều tay uống vài viên kiết lị giảm hẳn."

"Vô lý quá."

"Nhưng làm sao được bây giờ. Có thể trong Chloroquine có chất gì đó diệt được Amibe mà tôi không biết. Có điều uống vừa thôi, quá sẽ nguy hiểm." Như để cho Vĩnh tin hơn, Tuyên thêm, "Tôi có hỏi me-xừ Nhuận dược sĩ hắn cũng bảo có thể trong Chloroquine có kháng chất với Amibe."

Vĩnh cầm lấy mấy viên thuốc, ngẫm nghĩ giây lát cho một viên vào miệng rồi làm một ngụm cỏ hôi. Thấy Vĩnh đã uống thuốc, Tuyên đứng lên, ngó Vĩnh trấn an, "Ông cứ yên tâm, từ sáng mới có hai mươi lần, như vậy số lần đi cầu đã giảm quá nửa so với mấy ngày trước. Tôi có thể bảo đảm ông sẽ là một trong những người được nhận quà đầu tiên. Émitine, Néomycine tới tay là bỏ bố lũ Amibe chứ khó gì đâu."

Vĩnh kéo tấm vải đắp lên ngang ngực, lắng nghe anh bạn kế bên đang nặng nề tụt khỏi võng. Tuyên chạy qua giúp hắn một tay. Tiếng mông người rơi cái phịch trên một thùng đạn như không còn đau đớn, tiếp theo là tiếng của máu trong ruột sủi ra, giục giã, cồn cào, xót xa và nhanh gọn.

Giọng anh bạn khẽ cất lên:

"Giúp tôi lên võng được rồi."

Tuyên hỏi:

"Không chùi à?"

Giọng anh bạn chán nản:

"Mấy chục lần một ngày, thở không ra hơi, chùi làm gì nữa."

Vĩnh thiếp dần vào giấc ngủ. Dĩ vãng lại trôi qua đầu, rõ ràng và minh bạch... Các anh là bọn ngu dốt không đọc nổi chữ in... Thằng kia, mày cười cách mạng cái gì... Anh mới ba mươi mà sao nguỵ nó cho anh in nhiều sách thế... Uống đi, uống đi, cỏ hôi và vú sữa đất là thuốc dân tộc, cách mạng bao năm sống trong rừng rú đã toàn nhờ nó mà khỏi...
___
(*) đóng bằng gỗ thông gỡ từ các vách ván trong trại.
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1