![]() ![]() ![]() ![]() |
||
Human Rights Watch Tác Phẩm của Hà Thúc Sinh ![]() ![]() ![]() ![]() ![]() Quyền Của Lửa ![]() July 01-1999 Liên lạc: ![]() Vietnam Human Rights Watch P.O. Box 578 Midway City, CA. 92655, USA |
![]() CHƯƠNG HAI MƯƠI HAI Hơn nửa năm cộng sản vơ vét từ những vật dụng thượng đẳng như máy điện tử, những trang bị tối tân ở các bệnh viện, trường ốc, các loại xe cộ cơ giới, cho đến chổi cùn giẻ rách nơi các công tư sở đem về Bắc, dân miền Nam đã thật sự lâm cảnh khó khăn khi đi tìm mua những loại thuốc tây cần thiết. Giá như chúng vơ vét thuốc tây để cung cấp cho đồng bào ruột thịt miền Bắc đang cần thì cũng lấy làm vui, đàng này, dân ngoài Bắc mánh mung chạy được vào Nam thăm người thân, câu đầu tiên vẫn là "có thuốc tây không," kế mới là những lời "mơ ước" xe đạp, radio, đồng hồ, áo len, mùng mền. Như vậy, cả một núi thuốc tây ở miền Nam sau 30-4-1975 chạy đi đâu? Thời gian này một trăm người dân miền Nam thì hết chín mươi chín, trừ người sau cùng bị câm, hẳn phải văng tục vì một bản tin được các báo nhà nước hoan hỉ loan đi: "Chính phủ và nhân dân ta, trong tinh thần quốc tế vô sản, trong tình ruột thịt với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, gần đây đã quyết định gửi giúp chính phủ và nhân dân Angola một tầu thuốc tây đủ loại. Chuyến tầu hữu nghị đã rời cảng Hải Phòng ngày..." Thêm vào đó, bọn Tàu Chợ Lớn cũng ra tay bạo tàn không kém. Ngoài những số thuốc tây khổng lồ bị cộng sản vơ vét vào kho của chúng, một số lớn còn lại cũng chui luôn vào kho của ba Tàu. Khi có dịp chúng tung ra bán với giá cắt cổ, và tiền bạc của người dân miền Nam lại có dịp chui vào túi chúng. Trong hoàn cảnh như thế người ở nhà bắt đầu nhận được thư từ các trại cải tạo gửi về. Dĩ nhiên những lá thư đó không mảy may tỏ lộ địa danh thân nhân họ đang bị đày đoạ,ï và nội dung các bức thư hầu như đều tương tự về cách... hành văn: ngắn gọn và đầy lời lẽ giả dối. Sao lạ thường dường này! Người đọc thư không thể không kinh ngạc vì mới nửa năm xa cách, sao thân nhân họ lại có thể dở trò tiến bộ với cả cha mẹ vợ con nhanh đến thế? Cái gì mà nhờ ơn đảng, nhờ ơn nhà nước? Rồi đến tên các thuốc tây. Sao lạ tai lạ mắt và khó đọc thế này? Chẳng lẽ mới đó đã quên sạch tên những món thuốc tây thông dụng? Nào là át-sờ-pi-rin-nờ, xờ-tờ rép-tô-mi-xin-nờ, sa-côn-lờ, ê-mi-tin-nờ... Thôi thì đủ thứ loại những chữ phiên âm dị thường. Người ở nhà đâu biết chỉ nội cái vụ viết thư thôi, chồng, cha, anh, con của họ đã phải lên lớp, phải thảo luận, phải nộp bài thu hoạch về bài học dạy cách viết thư trong xã hội mới. Bài học này cũng có hai phần mục đích và yêu cầu như tất cả các bài học chính trị khác. Mục đích là: xã hội ta viết thư cho nhau không nhằm phô bày mặt tiêu cực của tình cảm, mà là nhằm động viên lẫn nhau để cùng củng cố niềm tin vào đảng vào cách mạng. Yêu cầu là: phải chấp hành nghiêm túc nội quy quy định trong việc viết thư về gia đình. Nội quy thì nhiều điểm lắm, nhưng vài lá thư sau đây có thể là những lá thư đạt yêu cầu phần nào về cả hai mặt ý thức tốt được mục đích và ứng dụng tốt được yêu cầu của cách mạng trong việc viết thư về gia đình xin viện trợ thuốc men. Sau đây là nội dung lá thư một anh phù thũng gửi về cho vợ: Anh khoẻ lắm em ạ. Em và các con đừng lo gì cho anh nhé. Ngày hồ hởi phấn khởi lao động, đêm về không trác táng rượu chè như xưa, trong khi lại được cách mạng lo cho vô cùng đầy đủ từ vật chất đến tinh thần nên hiện nay anh mập phì ra. Hôm nay cách mạng chiếu cố cho biên thư về thăm gia đình, lại còn cho thông báo gia đình được gửi vào ba cân quà và thuốc tây để trong này anh có thêm cái dùng. Nói thật với em thực tế anh cũng chẳng cần gì đâu, nhưng nếu được, em nhớ gửi cho anh vài món như sau: - Ba bánh thuốc lào. - Hai cân đường thẻ. - Một cân đường cát vắt sẵn chanh. - Ðặc biệt bê-một (B1) loại mạnh nhất. Anh,
Nguyễn văn A. TB lần nữa: Nhớ trong vòng ba cân thôi. Ðừng nặng hơn kẻo vi phạm quy định. Tốt nhất em đọc thông cáo của nhà nước đăng trên các báo. Sau đây là nội dung lá thư của một anh kiết lị gửi về cho cha mẹ: Thấm thoát con đã đi học tập cải tạo được nửa năm rồi. Dù lúc nào con cũng nhớ tới bố mẹ và các em nhưng vì ý thức đi học tập cải tạo là nghĩa vụ nên con luôn phấn đấu biến sự thương nhớ ấy thành hành động cụ thể là học tập tiến bộ để sớm được cách mạng cho về đoàn tụ gia đình. Riêng bố mẹ đừng quá lo cho con. Trong này con rất đầy đủ. Cách mạng không để thiếu thốn gì cả. Nhân đây con cũng báo tin để bố mẹ rõ là trại cho phép gia đình gửi vào cho con ba cân quà và thuốc men cần dùng. Nếu được, xin bố mẹ gửi cho con vài thứ như sau: - Một hộp muối vừng lạc. - Một cân đường thẻ. - Một cân muối trắng trộn tiêu hoặc ớt bột. - Hai hộp nê-ô-mi-xin-nờ và mười ống xờ-tờ-rích-nin-nờ. Kính thư,
Con, Trần văn B. Thốt nhiên một buổi sáng đẹp trời một số tù được lệnh lên tiểu đoàn nhận vật dụng cất một nhà kho đặc biệt bên hông văn phòng thủ trưởng trại. Hai ngày sau khi nhà kho dựng xong, một buổi trưa cả trại nhốn nháo vì có bốn chiếc Molotova có xe hộ tống từ đâu chạy đến đỗ trước văn phòng tiểu đoàn. Từ những kẻ bệnh nặng gần chết nằm nhà đến những người đi lao động quanh khu vực khung đều bất động theo dõi biến cố. Quà đến! Tin đồn lan nhanh như ánh bình minh trên những trái tim u ám mệt mỏi. Khi những tù trực hậu cần được lệnh gấp rút lên tiểu đoàn xuống hàng vào kho thì tin đồn đã trở thành sự thật. Chiều đi lao động về, cả trại hớn hở không khác nào người dân trong một nước cộng sản hay tin mới có một lãnh tụ vĩ đại vừa trúng thượng mã phong mà chết. Quản giáo Cư, như hầu hết các quản giáo khác, ngay buổi chiều xuống tận các khối nói chuyện. Phải thú nhận hôm nay quản giáo Cư vui vẻ hơn mọi bữa, vui vẻ pha chút ngậm ngùi khó hiểu. Hắn cho anh em khoẻ mạnh ra khênh Vĩnh và những người kiết lị nằm ngoài vườn vào nhà để tiện việc lên lớp. Cư nói, "Tôi xa nhà đi chiến đấu đến nay đã mười hai năm. Mười hai năm nhận được thư gia đình bốn lần, trong có hai lần báo tin cha tôi và một người thân khác qua đời, riêng chuyện quà cáp chưa bao giờ có." Nói rồi Cư cúi nhìn xuống chiếc dép râu, ngậm ngùi tiếp, "Do đó các anh phải nhớ cách mạng thương các anh vô cùng. Một hai ngày nữa khi quà các anh được nhập sổ và ký nhận xong, trại sẽ sắp xếp cho các anh nghỉ lao động một ngày để lên lãnh quà gia đình. Thay mặt ban chỉ huy trại, tôi cũng nhắc các anh vài điểm sau. Thứ nhất, các anh phải tuyệt đối chấp hành nội quy quy định việc nhận quà. Thứ hai, đợt quà đầu tiên chắc chắn có anh có có anh không, nhưng với châm ngôn cách mạng đã đề ra, các cải tạo viên phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, chúng tôi nhắc nhở các anh nên hữu ái với nhau, hữu ái không có nghĩa là hạt muối chia đôi cục đường lụm cả, mà mỗi thứ mình có, mình nên chia xẻ cho những anh em không có, đặc biệt thuốc tây dùng chữa kiết lị và phù thũng. Thứ ba, trại cũng biết các anh gần đây thiếu thốn nhiều thứ, chẳng do chủ trương của nhà nước, mà do đất nước ta mới giải phóng, khó khăn là điều tất yếu không thể tránh khỏi, thế nên cách mạng mới cho phép gia đình gửi quà vào chẳng qua để gia đình các anh có dịp tiếp tay với cách mạng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho các anh trong học tập cải tạo. Các anh nên hiểu chuyện quà cáp trên cơ sở vừa tình vừa lý là như vậy. Trại sẽ nghiêm trị bất cứ kẻ xấu nào xuyên tạc chính sách gửi quà đầy nhân đạo của cách mạng." Tên Cư lên lớp đôi ba điều, răn đe đôi ba chuyện rồi rút lui. Bọn tù bò lê ra bàn tán. Vĩnh được khênh trở lại giang sơn là chiếc võng ngoài vườn. Chiều chập choạng. Vườn rau ngai ngái mùi đất và mùi nước tiểu. Những cây rau dền và những luống cải ngồng xanh tốt cao quá đầu người. Tiếng côn trùng rền rỉ như đang tập dượt cho một bản hợp tấu lớn đêm nay. Vĩnh nằm trên võng ngó chênh chếch về hướng dãy cầu tiêu nơi có lần một người bạn đã bị bắn chết, đầu óc anh không ngưng tụ vào một điều gì rõ rệt. Mãi khi những ngôi sao sớm xuất hiện trên trời mới làm Vĩnh nhớ đến một ý nghĩ từng đeo đuổi trước đó. Giáng Sinh qua rồi. Mà Giáng Sinh đã qua thì sẽ "ba vua lễ nến, tết đến sau lưng, con nít thì mừng, người lớn thì lo." Câu đồng dao thuộc từ buổi thiếu thời lại trôi qua đầu Vĩnh. Anh thốt nhớ mấy câu thơ của Nguyễn Ðình Toàn: Khi anh về trời trong
và gió mát
Rồi tết đến rồi lòng anh nhớ quá. Bài thơ chẳng nhớ hết nhưng cũng làm Vĩnh bồi hồi tấc dạ. Chao ôi cái nhớ nhung trong trưa nắng của thi nhân giờ đang là cái tê tái của buổi chiều tàn quanh Vĩnh. Nơi đây cũng có cải ngồng, cũng vo ve tiếng ong, nhưng tết thì nghe xa vời như mình chỉ từng trải qua ở một kiếp nào khác. Rồi tết đến rồi lòng anh nhớ quá. Chao ôi, liệu tết sẽ có còn đến nơi đây chăng, hay chỉ là một trời tang thương, không thơ không mộng, là thân tàn ma dại kiếp nửa thú nửa người? Vài người bạn ghé thăm. Họ thay nhau tặng Vĩnh ít câu chuyện vui cười. Rồi trước khi chiếc màn được giúp giăng lên, anh thiếp đi, anh còn nghe thoảng giọng một người bạn khẽ nói, "Thằng này chắc tiêu!" Sáng hôm sau ai cũng ngẩn ra vì lệnh cho nghỉ tại trại sửa soạn lãnh quà sớm hơn nhiều người dự liệu. Cả trại bùng lên một khí thế khác thường. Các khối trưởng phải lên tiểu đoàn thật sớm để sắp xếp danh sách với quản giáo. Tù trong trại thấp thỏm chờ quà như chờ mẹ về chợ. Phải tới 10 giờ sáng đợt người đầu tiên của khối 2 mới được khối trưởng thông báo xếp hàng lên tiểu đoàn. Ðúng như Ngô văn Tuyên nói, "Bọn bệnh nặng được gọi lên trước!" Bọn ấy trong có Vĩnh. Những gói quà, dù sao, đã có một phép mầu. Có những người nằm như sắp chết bỗng dựng bật dậy khi nghe thấy tên được gọi. Vĩnh nhập bọn ghẻ chóc, phù thũng, kiết lị đi lên tiểu đoàn. Bạn bè các khối biết tin Vĩnh đi lãnh quà đều kéo đến nhao nhao chia mừng. Tạc, người thường hay bi quan cho sức khoẻ Vĩnh, chận ngay lối đi. "Trời cứu mày đó, Vĩnh ơi!" hắn reo lên. Ðính đứng cạnh, cười: "Chứ chẳng lẽ bác đảng." Tiến từ đâu chạy đến: "Ê Vĩnh, ị trước vài phùa đi mày. Lên tiểu đoàn bày ra đó coi không được đâu." Vĩnh bước đi, cây gậy trong tay cầm không muốn nổi. Anh chỉ ngó các bạn cười khẽ, sau cùng mới nói: "Ráng đổ c. cho tao, có bánh tao sẽ cho ăn lá, có kẹo tao sẽ cho ăn giấy." Tiến quay nói lớn với Hoá: "Mẹ, nó còn đểu thế kia mà mày bảo nó tiêu sao được. Thằng này trời đánh không chết, Lenin, Stalin và... Amibe hạ nó sao nổi." Ðoạn đường từ khối lên tới tiểu đoàn không xa, chừng trăm thước, thế mà đám tù bệnh cũng lết gần mười phút. Tới gần địa điểm phát qua anh thấy một tổ tù khác đang khập khiễng bưng quà về trại. Gặp nhau giữa đường chẳng ai buồn hỏi ai. Nhìn vóc dáng nhau cả đôi bên đều biết kẻ đối diện đều hạng bệnh sắp chết. Sau cùng Trai dẫn đám tù khối 2 tới địa điểm phát quà, nơi đám quản giáo có mặt đầy đủ. Ngay trước cửa kho kê chiếc bàn dài có ba tên bộ đội ngồi giữ sổ sách. Tên hậu cần được lệnh mở cửa kho. Cửa kho vừa mở đã có ba bốn con chuột phóng ra. Một anh bạn bệnh thầm thì: "Chuột thế kia chắc quà bên trong bị khoét tùm lum." Một giọng khác: "Giỏi lắm nó khoét tí mắm ruốc, tí đường, tí tôm khô, nhưng những con chuột lù lù kia kià mới ớn. Rồi chúng sẽ đục khoét cả giang sơn gấm vóc và tự do của chúng ta." Thấy anh bạn bốc đồng chửi ghê quá, cả đám nín khe. Tên hậu cần mở cửa kho, tay cầm một danh sách tiến đến bên bàn, nói, "Theo đúng nội quy quy định việc nhận quà, giờ gọi ai người ấy bước lên đây để được kiểm tra quà trước khi ký nhận. Các anh nghe rõ cả chưa?" Không ai trả lời.Và khi nhìn thấy mấy tên "nguỵ" toàn hạng dở sống dở chết hắn cũng không thiết mắng mỏ làm gì. Hắn xướng tên. Vĩnh nằm vào đợt thứ hai. Khi nghe gọi, như người khác, anh cũng tiến tới trước bàn. Gói quà được chuyển từ kho đặt lên bàn. Khối trưởng Trai đích thân mở gói quà trước sự chứng giám của ba cặp mắt cú vọ: quản giáo, tay cán bộ hậu cần và người nhận. Cư từ trước đã không ưa Vĩnh do cái vụ sách báo, dù nay anh đang bệnh gần chết, đôi mắt hắn do đó nhìn anh với nhiều ác cảm pha chút thắc mắc (chẳng hạn: sao đến giờ mà cái thằng phản động này nó chưa chết cà?). Gói quà được mở banh ra. Từ thùng đến giấy gói được xem xét kỹ như người ta nghiên cứu những tờ bạc giả. Tên Cư cầm lên tờ kê khai các món có trong thùng quà. Hắn quay sang Trai, hỏi: "Tôi xướng món nào anh mở món đó kiểm tra nghe chưa." "Dạ." "Một cân lạp xường," hắn nhìn lom lom vào thùng quà, hỏi, "lạp xường là cái gì?" "Dạ đây." Trai giơ cao cân lạp xường đỏ au mà giờ tưởng như chẳng có đôi môi tươi thắm của giai nhân nào lại có thể quyến rũ đến như thế. Cư hỏi gằn: "Món ăn hả, làm sao ăn?" "Dạ nướng, chiên, hoặc hấp cơm cũng được." Tên hậu cần bỉu môi ra chiều khinh bỉ: "Ăn với uống! Toàn những thứ phức tạp!" Tên quản giáo lại xướng: "Một lon muối mè." Trai lại giơ cao lon muối mè. Anh đặt nó sang bên. Tên hậu cần giục: "Mở ra kiểm tra chứ để đó làm gì." Lon muối mè được mở ra. Một que đũa được thọc vào. Que đũa bị khựng lưng chừng. Quản giáo Cư mặt đầy nét cảnh giác, lên tiếng: "Có gì trong ấy nữa đây, đổ ra xem." Trai tuân lệnh đổ lon muối mè ra một tờ giấy dầu. Muối mè mới đổ ra chừng nửa bát thì tắc nghẽn. Hai cặp mắt nghi ngờ chạm một cặp mắt hoảng hốt. Tên hậu cần ra lệnh: "Ðập mạnh xem nào!" Trai đập mạnh lon muối mè xuống tờ giấy. Vẫn không ra. Anh nhìn vào trong, cố giấu nụ cười, rồi thò tay vào lôi ra. Ruốc bông trong lon được nén đến độ đóng thành một khối cứng. Cư nhăn mặt: "Cái quỷ gì vậy?" "Dạ chà bông." "Chà bông là cái gì?" tên quản giáo vừa hỏi vừa bốc một chút lên ngửi. "Dạ là thịt heo kho khô, xé nhỏ, đánh tơi và sấy cho thật kỹ." "Phải ăn chung với muối vừng à?" Trai dạ đại một tiếng cho xong chuyện. Tên hậu cần lại lắc đầu lập lại câu nói cũ: "Ăn với uống! Toàn những món phức tạp!" Giọng tên Cư: "Hai che... che... che mi se là cái gì?" Trai biết ngay hai cái chemises mà người gửi đã không phiên âm sang tiếng Việt. Anh giơ cao hai cái áo nói vội: "Dạ che mi se là hai cái áo sơ-mi này đây." Cư lắc đầu cằn nhằn: "Sơ-mi thì viết sơ-mi, che che với đậy đậy." Những món kế tiếp là thuốc tây nhiều loại, từ thuốc cảm thuốc bổ đến trụ sinh chữa kiết lị... đều thứ hảo hạng của đế quốc Mỹ, bị ba Tàu ém nên mất dịp du lịch sang Angola. Chưa hết, gói quà còn vài món phản động khác. Một cân đường cát trắng, một gói cà phê, một lon sữa bột guigoz, vài gói 555, một hộp bơ Ðồng Tiền. Vĩnh liếc qua đống quà. Anh nhẩm tính thấy trọng lượng có thể đã trên năm ký. Giọng cả quỷnh của tên hậu cần trại lại cất lên: "Gớm, xét trên cơ bản thì gia đình anh này chưa được tiến bộ nhiều lắm, vẫn nổi lên cái mặt bơ thừa sữa cặn đấy nhá." Tên quản giáo Cư biết còn nhiều "thân chủ" khác đang đợi mình nên xua tay nói như đuổi: "Ðược rồi, cho thu vào!" Ngoại trừ lớp giấy gói, hộïp và lá thư phải để lại, kỳ dư Vĩnh được nhận hết. Anh thu vén mọi thứ bỏ vào chiếc bao nylon lớn. Anh làm thật mau như ngại tên quản giáo có thể đổi ý vào phút cuối. Xong đâu đấy Vĩnh run tay cầm bút ký nhận đủ vào giấy hồi báo. Anh mang gói quà rời khỏi bàn tới ngồi bên các bạn. Phải đợi cả toán nhận quà xong Trai mới dẫn một lượt trở về trại. Ngồi xuống đất rồi anh mới thấy mệt. Nghĩ tới căn bệnh trong người, chưa cần biết rõ thuốc phải uống thế nào, Vĩnh moi ngay một viên Néomycine cho vào miệng nuốt trửng. Ít phút sau anh thấy choáng váng. Anh ngồi gục đầu trên đầu gối cho đỡ mệt. Những hình ảnh hỗn tạp lại trôi qua đầu anh... Các bưu điện trên toàn cõi miền Nam suốt ngày ngập người. Họ nối đuôi nhau thành những hàng dài bất tận, dưới nắng cũng như dưới mưa, chờ đến lượt được gửi đi những món quà cho thân nhân đang hấp hối vì phù thũng và kiết lị trong lao tù cộng sản... Có tiếng động mạnh cùng với tiếng cằn nhằn lớn giọng của tên quản giáo. Vĩnh lắng tai nghe. "Cái này là cái gì?" quản giáo Cư hỏi. "Không ích lợi gì cho cải tạo viên. Ðể ra kia, khung sẽ nghiên cứu." Giọng Trai nhỏ nhẹ: "Thưa đó là cái pipe." "Pipe là cái gì?" "Dạ là cái ống vố, còn gọi là tẩu, để hút thuốc." Cư lẩm bẩm: "Tẩu xưa kia tây đồn điền nó mới hút, vả lại cái tẩu gì mà mất vệ sinh, mất văn hoá, cái tẩu gì mà trông như cái mông chị nữ thế kia, lại còn nhận thêm hai con mắt vào đấy nữa." "..." "Mở luôn cái hộp kia ra xem nào!" Vĩnh nhận ra đó là một hộp thuốc Dunhill. Khối trưởng Trai đã mở ra. Nét mặt anh ta như hơi đần lại. Có lẽ Trai đang tận hưởng cái hương thơm ma quái của thuốc Ăng Lê. Cư cầm lấy hộp thuốc, ngửi, rồi bốc một nhúm nhìn cho rõ. "Cũng thơm ra phết đấy chứ," hắn nói, nhưng chợt nhận ra cái màu thuốc vàng đen lẫn lộn, hắn nhăn mặt tiếp, "Cái này chắc có trộn ma tuý. Tôi giữ lại để khung nghiên cứu." Hộp thuốc và cái pipe của anh bạn nào đó trên lý thuyết đã được cách mạng chiếu cố để nghiên cứu, nhưng trên thực tế đã thay đổi chủ nhân từ giây phút ấy. Hơn mười lăm phút sau cả toán mới được khối trưởng dẫn về trại. Bệnh hoạn đi tay không còn chưa nổi, giờ mỗi người lại đèo thêm năm sáu kí quà thành thử tay nào tay nấy lết lê trên đường. Mãi khi vào tới bên trong hàng rào trại bạn bè mới ra giúp. Ðính ôm gói quà giùm Vĩnh. Về tới phòng, việc đầu tiên anh phải ra giếng thay... quần đùi. Mệt nhọc khôn lường. Ðính phải ra theo dìu Vĩnh trở lại phòng. Anh lôi hết mớ quà bày trên sàn nhà. Ðám bạn thân tụm lại. Anh hiểu các bạn thèm gì. Trước tiên anh mở hộp đường cát, rồi bóc luôn hai gói ba số năm. Vĩnh thều thào: "Xin chúng mày cứ tự nhiên cho." Tạc bất nhẫn kêu lên: "Không được. Tất cả thức ăn phải để cho mày tẩm bổ. Tụi tao chỉ có quyền hút ăn mày của mày mỗi đứa một điếu ba số năm cho thơm mồm thôi." Hoá từ ngoài hốt hoảng chạy vào: "Vĩnh về rồi hả, có thuốc lào không?" Ðính đáp thay: "Vợ nó chắc sợ nó hôi mồm nên không cho hút thuốc lào, chỉ có ba số năm thôi, làm một điếu cho thơm râu thì làm." Tiến sà xuống. Nó cầm lấy một điếu ba số năm, lẩm bẩm: "Vợ mày đúng là một chị chậm tiến, giờ mà còn chơi cái của tư sản thơm tho này." Vĩnh quá mệt. Anh không muốn tham dự tí nào vào những câu chuyện của bạn bè lúc này. Anh nhẹ ngả lưng xuống và nhìn qua kẽ vách. Trời xanh ngắt. Một vài áng mây bay nhàn nhã về một phía mà anh nghĩ đó là phía Sài Gòn. Thốt nhiên trên vầng mây ấy anh nhìn ra khuôn mặt của vợ con. Vĩnh ngậm ngùi tự hỏi lòng: Con ta rồi sẽ chết thèm chết nhạt bao lâu vì gói quà này? Bỗng có tiếng khóc
rưng rức bên góc nhà đối
diện. Ai cũng ngó sang. Lê văn Thống,
anh bạn đồng bệnh của Vĩnh đang
ngồi với gói quà trên đùi,
khóc nghẹn và đôi mắt trừng
trừng nhìn ra ngoài sân. Vĩnh
cố gượng ngồi lên. Anh ngó
Thống. Trông Thống ủ rũ như
cái hình nộm hết thời, nhưng
trong đôi mắt đang hực lên
của anh ta Vĩnh có thể đọc được
muôn vạn lời.
|
|
![]() |