Tác Phẩm của
 Hà Thúc Sinh
Thơ
Ðại Học Máu
Vài Truyện Ngắn
Tống Biệt Hai Mươi
Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa
Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999
Red File: 
50 Years of Violation of Human Rights  in Communist Vietnam
Religions in Communist Vietnam
 Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA
 Ðại Học Máu

CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN

Hơn một trăm tù mới bổ sung cho trại 1 được gài vào năm đội. Ðội 5 có lẽ được gài vào nhiều nhất, vì từ B1 đến B5, B nào cũng thấy có người mới. Những dãy A, C, D, và E ít hơn. Và như thế, xét trên mặt tâm lý thông thường, những anh chàng bị gài một cách lẻ loi vào các đội khác chắc phải buồn và cô độc lắm. Nhưng dù ở đội nào, 8 giờ sáng tất cả lại được gặp nhau trên hội trường. Hội trường ở đây không "hùng vĩ" như ở Trảng Lớn vì nó không do... mồ hôi nước mắt của bọn tù dựng lên, mà là một dãy nhà tiền chế–có thể là một dãy nhà kho–của Mỹ dựng trước đây. 

Ngược lại bọn quản giáo ở đây trông văn minh hơn bọn ở Trảng Lớn. Thằng nào quân phục cũng thẳng nếp và đeo quân hàm đàng hoàng. Tuy nhiên chúng có vẻ quan liêu và ác độc hơn. Cái cảm giác ấy khiến người mới đến thấy rằng, sở dĩ chúng quan liêu hơn chính vì thái độ quá khúm núm của các trại viên nơi đây, và ác độc hơn có lẽ vì trại này là trại nhốt toàn công an cảnh sát của chế độ cũ, một đối tượng chúng đã phải đặt thành vè:

Quân nhân công chức thì tha,
Công an cảnh sát lóc da bêu đầu.

Tất cả lại được gặp nhau trên hội trường. Những người cũ trước khi đi lao động có xầm xì rằng số mới tới còn được biên chế nữa chứ chưa ổn định tại trại này. Tin đồn dù sao cũng làm anh em rêm mình. Nó mà phân tán mỏng hơn nữa chắc buồn lắm. 

Khi mọi người lên tới hội trường đã có sẵn một lô quản giáo. Các đội trưởng, trong có đội trưởng Chúc, đều tỏ ra rất bận rộn với lũ tù mới. Chúc luôn miệng hét: "Anh ngồi đây. Anh kia, ngồi yên chỗ đó!" Trên hệ thống loa của hội trường giọng một tên cai tù đã nổi lên: "Thôi nhé, ổn định đi nhé, các anh ổn định chỗ ngồi xong chưa?" Bên dưới chỉ có những tiếng "Thưa rồi" của các đội trưởng. Nghe đáp, tên cán bộ, cũng với cái giọng thì thì mà mà như trăm ngàn thằng cán bộ khác của tân chế độ, bắt đầu lên lớp: "Thế thì là hôm nay tôi nhân ranh quản ráo đại riện khung trại 1, hân hoan chào mừng các anh mới từ Trảng Nớn biên chế về đây tiếp tục học tập cải tạo."

Phía dưới nhìn lên giờ Vĩnh mới nhận ra hắn bị liệt một tay, tay trái. Vì liệt một tay nên người hắn đứng không thẳng, lúc nào như cũng có khuynh hướng sắp đổ sang một bên. Sau câu chào mừng hắn lùi lại tấm bảng đặt trên giá ngay sau lưng, kéo tấm vải che màu xanh sang một bên, để lộ tấm carton trắng viết chữ đỏ thật đẹp. Bên dưới bọn tù mới đều nghĩ bụng: Chà, đây "văn minh văn hoá" thật. Công này cũng do mấy ông cải tạo viên vẽ ra đây thôi.

Mở xong tấm vải hắn kéo máy vi âm lại gần, rồi chỉ từng chữ trên tấm carton, nói lớn: "Bản nội quy của trại ta gồm bốn mục chính. Ăn ở, học tập, lao động, và đấu tranh sai trái. Tôi sẽ lần lượt đi vào các điểm của từng mục."

Hơn một tiếng đồng hồ ê a, tên quản giáo liệt một tay đi hết 38 điểm trong bản nội quy. Nội dung của nó cũng chẳng khác gì bản nội quy ở Trảng Lớn. Ăn ở thì phải vệ sinh có văn minh văn hoá; học tập thì phải thành khẩn nghiêm túc; lao động phải tích cực, đảm bảo đạt chỉ tiêu, đạt chất lượng, đúng kỹ thuật và kỷ luật, luôn phấn đấu nâng cao năng xuất; đấu tranh sai trái phải thẳng thắn, không bao che, không kiêng nể.

Kết thúc buổi lên lớp luôn luôn là một bài hát. Một tên đội trưởng nhảy lên sân khấu bắt nhịp một bài hát. Không may cho hắn, bản này bọn tù Trảng Lớn chưa hề được học. Hắn bối rối bắt bài khác. Cũng lạ tai nốt. Mãi đến bài thứ ba bên dưới mới chấm dứt tình trạng ngậm tăm và hát theo.

Lúc theo các bạn bước ra sân Vĩnh mới có dịp quan sát tất cả sự vật chung quanh trại 1. Ðúng như nhận xét lúc khuya của anh, nơi đây sự tổ chức doanh trại có vẻ quy mô hơn Trảng Lớn nhiều. Những đống gỗ thông, những cột điện gỗ ngâm dầu đen sì, những tấm tôn xếp thành từng chồng... cho thấy trại đang nằm trong một kế hoạch kiến thiết mới. Qua một lớp rào đơn chạy suốt từ đầu sân này đến đầu sân tận cùng của trại, bị cắt đứt bởi một cái hào lớn, Vĩnh thấy có nhiều người đứng xớ rớ phía bên kia hàng rào. Bên đó cũng có những dãy nhà như bên này, cũng có những miệng giếng rộng bên trên treo nhiều ròng rọc. Bính bỗng đập vào vai Vĩnh, nói: "Thằng Sanh kìa!"

Vĩnh thấy Sanh đứng một mình nhìn trời nhìn đất có vẻ buồn lắm. Vĩnh gọi, khá lớn tiếng:

"Sanh!"

Sanh quay lại. Nó ngó chung quanh rồi mới tiến đến gần hàng rào, hỏi:

"Tụi mày được ở bên đó hết hả?"

"Ừ, mày trại mấy?"

"Trại 2. Có mình tao và thằng Vinh thôi. Vinh tổ 10 ấy. Buồn đéo chịu được Vĩnh ơi."

"Chứ bên này vui à? Cho biết tình hình sinh hoạt bên đó được không?"

"Hắc ám lắm."

"Học nội quy chưa?"

"Chưa. Giờ nó cho đi tắm rửa. Chiều lên lớp. Bên mày thì sao?"

"Vừa ở hội trường ra. Bên đó mày có nghe tin đồn là sẽ có biên chế nữa không?"

"Cái gì?"

"Mày có nghe nói sẽ có chuyển trại nữa không?"

"À có. Mà không. Chỉ nghe nói còn nhiều đợt Trảng Lớn đưa về đây nữa."

Thấy có nhiều tay tù cũ cứ đứng trố mắt nhìn những kẻ mới đến tự do "liên hệ linh tinh," Bính vội kéo tay Vĩnh và nói lớn với Sanh:

"Giữ liên lạc với tụi tao nghe mày. Cũng chỗ này, chiều chiều..."

Nói rồi cả hai bước theo những người khác trở về phòng. 

Ðội trưởng Chúc đã đợi mọi người trước vuông sân của B1. Vĩnh đứng nhìn quanh. Ở đây tranh thủ "trồng cây nhớ bác" ghê thật. Trước mỗi dãy nhà đều có những giàn bầu giàn mướp leo xanh rờn. Ðứng nơi đây, Vĩnh có thể quan sát khá rõ con lộ chạy bên hông B1. Ðúng con lộ ấy đêm qua đám Vĩnh được xe Molotova thả xuống. Như vậy cổng trại 1 sẽ nằm phía sau những dãy nhà kế tiếp của đội 5 này. Lề phía bên kia con lộ là một con hào dài, sâu. Bên ngoài con hào là thép gai thả chằng chịt chạy mút tới các trại kế tiếp mà theo Vĩnh đoán đó là các trại 2, 3, 4... Nhìn những luống rau muống trồng gần hàng rào mới ghê hồn. Ðất ở đây xấu quá, tệ hơn cả đất ở căn cứ Trảng Lớn. Ðất trồng rau mà lởm chởm toàn đá ong đỏ au được đập vụn dù những cọng rau muống vẫn mập ú. Nhưng nó mập chẳng nhờ đất mà nhờ tù ở đây áp dụng đúng bài học: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Phân được chơi tối đa. Trên những luống rau Vĩnh thấy phân rác trộn phân người được rải lền khên. Ruồi bâu trên những luống rau như rải đậu đen. Nhớ tới cái mùa kiết lỵ năm trước ở Trảng Lớn Vĩnh không khỏi rùng mình.

Ðội trưởng Chúc cho mọi người tập họp. Vì trong bụng đã hơi gờm cái đám tù mới đến, thành thử hắn chỉ vắn tắt: 

"Theo Trên, sáng nay cho các anh nghỉ ngơi tắm rửa và làm vệ sinh cá nhân. Tôi chỉ yêu cầu các anh triệt để chấp hành nội quy. Anh nào liên hệ linh tinh bị ghi nhận hay bị quản giáo bắt gặp hoàn toàn tự chịu trách nhiệm. Riêng các anh tổ trưởng các tổ mới lập theo tôi xuống bếp; tôi sẽ hướng dẫn cách thức lãnh cơm nước cho anh em..."

Chúc chỉ nói vài điều như vậy rồi cho tan hàng. Vĩnh trở về phòng. Dù thật buồn ngủ nhưng hôm nay vẫn là một ngày thoải mái trong đời cải tạo: không ai phải đi lao động và được thong dong tắm rửa ngay trong buổi sáng. Một lúc sau cả bọn kéo nhau ra giếng. Tổ mới người mới, gầu và dây đều chưa có nhưng biết mượn ai bây giờ. Vĩnh chạy trở về phòng. Mỗi phòng đều có một người trực nhà. Người trực ở phòng Vĩnh là một ông già. Tên ông là Tấn. Ông già lắm, tuổi cũng phải xấp xỉ sáu mươi. Từ sáng sớm Vĩnh đã thấy ông tỏ nhiều thiện cảm với cánh mới đến. Chưa có dịp để nghe ông nói nhưng nhìn ánh mắt và sự dặn dò thân mật của ông với đám Vĩnh, anh nghĩ rằng ông ta sẽ rất sẵn sàng giúp đỡ những chuyện lặt vặt cần thiết lúc này. 

"Bác Tấn!" Anh gọi.

"Gì đấy ông?"

"Bác có gầu múc nước không?"

Ông Tấn hơi ngẫm nghĩ:

"Tôi chỉ có một chiếc gầu nhỏ xíu múc nước lau nhà. Gầu lớn... Thôi được," Ông Tấn hơi lưỡng lự, rồi tiếp. "Ðể tôi mượn tạm của mấy tổ đi lao động. Các ông dùng xong để lại chỗ cũ. Ở đây họ khó chịu lắm, mượn mà không hỏi sinh chuyện tức thì."

Nói rồi ông Tấn bước ra sau nhà. Vĩnh lẽo đẽo bước theo ông. Ông dẫn Vĩnh đến cái bếp nhỏ của phòng dựng sát hàng rào phía sau. Anh kinh ngạc quá. A, ở đây đỡ quá, lại có chế độ bếp mẹ bếp con (*) nữa chứ.

Anh hỏi:

"Ở đây họ cho mình nấu nướng linh tinh nữa hả bác?"

Ông Tấn lúi húi tìm một cái gầu gò bằng tôn được xếp ngăn nắp bên hông bếp. Ông nói:

"Bếp cơm của cả trại là dãy nhà tôn dưới kia các ông biết rồi. Gần đây trại họ cho mỗi nhà được dựng một bếp nhỏ như thế này để cải tạo hâm đồ ăn thức uống hoặc nấu những món gia đình gửi vào. Tuy nhiên cũng nhiêu khê lắm. Ðe dẹp hoài. Trực nhà phải lo vệ sinh cái bếp con này còn hơn lo chỗ nằm của mình. Họ đi kiểm tra thấy dơ một tí là đe dẹp. Mà bếp bị dẹp là lỗi trực nhà. Anh em nó lôi ra trước tập thể đấu tố có mà bỏ xác."

Vĩnh không chú ý lắm đến lời ta thán của ông Tấn. An tò mò:

"Nhà gửi vào đồ khô thì cần gì nấu nướng?"

"Nhưng nếu không có bếp con thì lấy gì luộc khoai? Ở đây bộ chỉ huy họ bán khoai sống cho cải tạo."

"À ra thế!"

Vĩnh tính nói thêm điều gì nhưng lại thôi. Dù sao có bếp cũng lợi rồi.

Ông Tấn lựa một cái gầu và một sợi dây tốt nhất đưa cho Vĩnh, dặn dò:

"Dùng xong ông nhớ móc vào chỗ cũ, dây tháo ra, cuộn lại và móc lên đinh cho khô. Ðừng quăng bừa ra đó họ về họ chửi tôi chết."

Vĩnh cám ơn, cầm chiếc gầu và sợi dây bước đi. Anh nhìn chiếc gầu mà hết hồn. Nó không phải là một chiếc gầu mà là một cái thùng gò bằng tôn có dung tích ít ra cũng gấp đôi cái thùng dầu hoả hiệu con gà. Thứ này có đại lực sĩ cũng không kéo nổi. Vĩnh ngoái lại hỏi:

"Gầu lớn thế này làm sao kéo hả bác?"

"À, cũng dặn ông. Ở đây cái gì cũng chơi tập thể, kể cả kéo nước. Gầu này tối thiểu phải có ba tay xúm lại mới kéo nổi. Ông cứ móc dây vào ròng rọc mà kéo. Trai trẻ như các ông hai người cũng thừa sức."

Nghe nói "trai trẻ như các ông" mà Vĩnh buồn cười. Tuổi anh mới ba mươi nhưng những trận đau thập tử nhất sinh của năm qua đã biến anh thành một cái xác biết đi, trông còn thê thảm hơn ông Tấn, một ông lão lục tuần nhiều. Nghĩ thế nhưng Vĩnh chẳng nói gì. Anh cầm chiếc gầu và thong thả bước về phía giếng nước. Tiếng bác Tấn hỏi với theo: "Trông ông quen lắm. Hồi xưa ở đâu?"

Vĩnh đứng lại:

"Ở đâu là sao bác?"

"À, nhà cửa ấy, gia đình ở đâu?"

"Tôi ở Ông Tạ. Còn bác?"

"Tôi à? Tôi cũng ở gần đấy thôi. Ở cư xá sĩ quan Chí Hoà."

Vĩnh hơi ngẫm nghĩ:

"Bác già quá rồi, sao phải vào đây?"

Ông Tấn nhìn quanh một vòng. Khi biết chắc không có ai khác, ông thều thào:

"Cả họ nhà tôi đi cải tạo ông ạ. Tôi chỉ là cựu thiếu úy Bảo An Ðoàn, đã giải ngũ gần hai chục năm rồi. Hai thằng lớn nhà tôi một thằng trung tá một thằng thiếu tá. Trong đám cháu nội ngoại cũng có ba thằng cấp uý. Bị gom trọn ổ."

Vĩnh không biết nói sao, chỉ cười buồn:

"Bác già mà kiểu cách và giọng nói còn nhiều nhà binh tính lắm. Thôi thì cũng rán cải tạo cho vui. Thế nào bác cũng về sớm hơn tụi này. Ðừng lo gì bác ạ."

Ông Tấn gật gù rồi quay vào trong nhà, quay trở lại với nhiệm vụ cây chổi của ông ta. Vĩnh xách gầu ra giếng. Ðám ngoài đó đã có kẻ mượn được gầu múc nước rồi. Nhiều tay đang bu lấy một sợi dây kéo một gầu nước to tướng. Vĩnh đứng nhìn. Cái hoạt cảnh này khiến anh nhớ đến những phim La Mã với nô lệ xếp từng hàng dài, mệt mỏi cùng bấu lấy một sợi dây thừng to để kéo những vật nặng lên một đỉnh cao nào đó.

Bính chạy lại cầm sợi dây tiếp Vĩnh. Nó cố buộc một đầu dây vào khúc cây đóng ngang thùng thiếc nhưng loay hoay mãi vẫn không buộc xong. Vĩnh ngứa mắt, bảo:

"Ðưa đây!"

"Dây to quá tao buộc còn sợ tuột, tay mày như cái se điếu thế kia."

Vĩnh cười:

"Nút dây là một kỹ thuật của Hướng Ðạo và Hải Quân. Tao gồm đủ hai thứ đó. Ðâu cứ phải người chiếm giải nhì kéo tay như mày mới buộc chặt được nút dây!"

Bính cười cười rồi trao đầu dây cho Vĩnh, nói vu vơ:

"Công nhận thằng Ðính nó khoẻ thật. Roi roi mà sao gân tay nó cứng thế. Giờ này chắc tụi nó đinh ninh bọn mình đang nằm đảo hay một chỗ nào đó trong dãy Trường Sơn."

Vĩnh vừa buộc dây vừa hỏi:

"Mày có biết tại sao tụi nó đưa bọn mình về ngay Biên Hoà này không?"

"Con nít nó cũng biết. Cỡ tao nó đem vào Trường Sơn khác nào thả cọp về rừng. Tao sợ rồi đây chúng còn cất kỹ mình vào khám Chí Hoà nữa không chừng. Mẹ kiếp, nằm trong đó coi như gặm một mối căm hờn trong cũi sắt!"

Vĩnh đã buộc xong dây vào gầu. Anh đứng lên cầm đầu dây kia xỏ vào một trong những chiếc ròng rọc treo bên trên miệng giếng. Giữa những tiếng kéo nước và xối nước ầm ầm, anh nói khẽ như để cho chính mình nghe: "Nơi đây có tháp cánh cũng khó bay thoát. Và nếu như Mỹ có giở lại cái trò Sơn Tây thì một sư đoàn không quân chưa chắc vào nổi."

Chiếc gầu vừa được thả xuống thì một đám khác đã ùa vào ké. Những thùng nước cứ thế thay nhau kéo lên và lũ tù cứ ào ào tắm gội. Vĩnh vừa tắm vừa ngó chung quanh. Anh không thấy Tiến và Hoá đâu cả, chỉ thấy ông xã xệ Kim đang lúi húi như tìm một vật gì ngoài bờ mương. Bỗng nhiên Bính chỉ tay ra ngoài hàng rào, nói: "Tụi nó lao động về kìa!" Vĩnh dõi mắt nhìn. Từ xa, khuất sau những bụi cỏ lau, cỏ cứt lợn cao quá đầu người, sau những gò mối đã hoá đá ong, Vĩnh thấy từng đoàn người xếp hàng ngay ngắn đang tiến về phía trại. Theo sau những đoàn người ấy dĩ nhiên có vệ binh vác súng hộ tống và quản giáo đi kèm. Vĩnh thấy lòng chẳng buồn cũng chẳng vui. Anh chỉ thắc mắc không hiểu sau những bụi rậm khuất mắt kia là đâu. Những nông trường bát ngát? Hay những nền nhà Mỹ? Hay những bãi mìn đầy cỏ hoang và sình lầy chạy theo vòng đai phi trường Biên Hoà?

Nắng giờ này đã thấy gắt. Nắng Biên Hoà chẳng thua gì Trảng Lớn. Ðứng xối nước ào ào mà còn thấy nóng. Bỗng dưng Vĩnh lại nhớ đến thân phận của những người cùng chuyển trại về đây nhưng họ đã không được bước lên xe thoải mái như anh và nhiều người khác, mà bước lên những chiếc xe đặc biệt có xích sắt nơi chân và còng nơi tay. Những người ấy là Tỷ và Non, xa hơn chút nữa là Nguyễn Ngọc Trụ của L4T1. Còn bao nhiêu người như thế? Vĩnh không thể biết rõ vì anh cũng chỉ là một tên tù dưới chế độ cộng sản, có nghĩa là có nhiều chuyện xảy ra ngay trong khối trong đội bên cạnh mà vẫn không hề có dịp hay biết. Tin tức về những người khác trại, ngay cả khác khối khác đội cũng chỉ có thể biết được nhờ một sự may mắn tình cờ. Dù sao trước khi rời Trảng Lớn, Vĩnh đã được nhìn thấy nhiều người, trong có Tỷ và Non, bị cùm chân tay dẫn lên những chiếc xe đặc biệt; những người bạn ấy bây giờ ở đâu, đang nằm trong một conex, hay đang bị tra khảo nơi một phòng an ninh nào đó của những khu trại mới? 

Ông Tấn chợt xuất hiện với cây chổi còn cầm trên tay. Ông nhìn Vĩnh nói lớn:

"Họ lao động về rồi. Ông trả cái thùng về chỗ cũ giùm đi không sinh chuyện kẹt cho tôi lắm."

Vĩnh vội kéo thùng tháo dây và xách trả về chỗ cũ. Mươi phút sau những đoàn tù lao động đã về tới con lộ. Ðám Vĩnh bước ra đầu hồi nhà B1 đứng nhìn. Ai cũng mong mình nhận ra một người quen. Ðám tù lao động về trông bê bết và mệt mỏi. Có lẽ họ đã trải qua một buổi sáng "vinh quang" cật lực. Thúng, cuốc, leng, xẻng, dây, gậy... Tất cả tạo thành một đoàn quân hỗn độn, rã rời. Tiếp theo là những tiếng hô hoán điểm danh, tiếng báo cáo nhân số, tiếng hăm doạ, tiếng chửi rủa... Rồi thì các đội hình tù xếp hàng dài tít cũng lần lượt tan ra, không khác nào đám nô lệ thốt nhiên được buông khỏi một chuỗi xiềng xích vô hình. Họ lẫm lũi, xiêu vẹo tìm lối trở về phòng.

Vĩnh quay trở lại B2. Ðứng nghĩ ngợi vu vơ dưới giàn mướp xanh rờn, có những quả đã già quắt chen những quả xanh tươi nhưng không ai hái—đúng hơn không ai dám hái dù cho chính tay họ vun xới trồng lên—Vĩnh nhìn xuống căn nhà tôn tiền chế dùng làm nhà bếp và nơi phát cơm. Lạ nhỉ, tụi quản giáo ở đây hời hợt thật! Bon tù mới đến giờ cũng chưa biết quản giáo đội mình là ai. Chả nhẽ chúng nó trao hết quyền cho đội trưởng để khống chế bọn tù hay sao?

Ðang nghĩ ngợi thì anh bạn Kim từ phía sau đập vào vai:

"Moi vừa gặp một tay lao động về. Lũy trông giống hệt tay trung uý tường thuật đá banh trên vô tuyến truyền hình trước đây."

Vĩnh ngao ngán:

"Tưởng gì lạ chứ hắn hiện diện ở đây là một cần thiết hiển nhiên. Thân mình đây chẳng đang là một quả banh hay sao? Ðời đá lên đá xuống cũng cần có sự hiện diện của một tay tường thuật nhà nghề lắm chứ."

Những tiếng khua bát đũa ầm ĩ vang lên đó đây làm Vĩnh cũng thấy đói cồn cào. Anh chợt thấy vui vui. Anh hồi tưởng lại những cảm giác phải chịu sự điều độ thời thiếu niên học trong một trường nội trú. Giờ cơm nào cũng thấy vui khi người ta đói. Từ trong phòng B2 nổi lên những tiếng thúc hối người trực phòng xuống bếp nhận cơm. 

Ðây là giờ bận rộn của bác Tấn. Phần cơm của trên năm mươi người thực tế không phải là nhẹ. Bác chỉ là người trực chính. Những người trực phụ trong ngày có nhiệm vụ theo bác xuống bếp nhận và khuân phần cơm rau về cho cả phòng, thường ít khi hiện diện đủ để theo bác xuống bếp thi hành phận sự. Họ đều là những người vừa lao động về, do đó cũng cần tắm rửa như ai trước bữa ăn. Thường thường bác lại phải đứng giữa phòng kêu gọi sự tình nguyện thêm của một vài anh đã tắm rửa xong.

Vĩnh mới đến, chẳng nề hà gì mà không tình nguyện theo bác xuống bếp tham quan một chuyến. Dù sao việc chia cơm chia rau ở đây khác xa Trảng Lớn. Ở đây tập thể hoá mọi việc, kể cả việc kéo nước tắm, nhưng ăn thì... cá thể. Ðiều ấy có nghĩa là tổ trực nhận cơm về phân phối lại cho các tổ, các tổ sẽ chia đều cho các tổ viên, và sau đó mạnh ai nấy kiếm một chỗ ngồi ăn. Có anh cầm ca cơm ra một gốc cây ngồi nhai, có anh về chỗ ngủ nằm nhai, nhưng cũng có từng nhóm hai ba người ngồi ăn với nhau nơi một góc hè.

Khi xuống tới bếp, Vĩnh đứng quan sát cách tổ chức của bếp. Ở đây cũng khác Trảng Lớn. Tổ nấu bếp là một tổ thường trực do chính đội trưởng bổ nhậm. Một khi đội trưởng quyền uy như ở đây, tổ anh nuôi nghiễm nhiên biến thành những ông vua con. Họ chia gì lấy nấy. Kêu ca bị chụp mũ phản động như chơi.

Ðội B2 gồm năm mươi hai người nhận một máng cơm gồm mười thau và hai phần lẻ. Thau cơm ở đây chỉ bằng hai phần ba thau ở Trảng Lớn. Nhìn qua "chất lượng" đã đói trông thấy. Mỗi B còn được phát một thau rau muống già cỗi và một đĩa nước muối pha nước màu giả làm nước mắm. Phần cơm rau sau khi được khênh về đội, được cân đo chia chác tỉ mỉ, mỗi người được hơn bát cơm độn khoai (Trại An Dưỡng khởi sự việc ăn độn), ít cọng rau muống và hai thìa nước muối.

Vĩnh cầm phần cơm rau đựng trong một cái lon guigoz ra ngồi dưới giàn mướp. Vừa nhẩn nha nhai, anh vừa ngó sang phiá toà nhà xây cao và rộng như một cái hăng-ga. Phía sau toà nhà là những cánh đồng khoai mì bát ngát.

Một giọng nói cất lên bên cạnh Vĩnh:

"Ở đây mọi thứ trông đều có vẻ khoa học hiện đại tiên tiến, chỉ trừ việc ăn là lạc hậu."

Vĩnh ngoái lại. Hoá đang ngồi xuống cạnh anh với một nụ cười thật tươi trên môi; tuy nhiên, tươi hơn phải là cái lạp xường đỏ au nướng cháy cạnh đang nằm trên một cái nắp guigoz.

"Ðâu ra vậy?"

"Anh bạn cò cho."

"Tốt nhỉ."

Hoá ngồi xuống, cầm chiếc lạp xường xé đôi. Hắn bỏ một nửa vào lon cơm độn của Vĩnh.

"Vừa nghe đồn đợt quà thứ tư gửi lên Trảng Lớn đã tới. Tụi nó có lẽ sẽ chuyển tiếp nay mai."

Vĩnh ậm ừ với chút băn khoăn. Ðến thẳng trại còn thất lạc, chuyển tiếp kiểu này lấy gì làm bảo đảm. Kỳ quà tới đây nếu có, Vĩnh biết chắc anh sẽ có khá nhiều thuốc tây vì đã nói rõ với gia đình trong một lá thư trước khi rời Trảng Lớn.

Ðang chậm rãi tận hưởng tí cơm độn với nửa cái lạp xường thì Vĩnh giật mình vì một bàn tay thô bạo chụp mất miếng lạp xường của anh. Tiến đứng lù lù trước mặt, tay cầm lon cơm, tay cầm miếng lạp xường giơ lên miệng như dọa sẽ nuốt hết và cười hềnh hệch.

--

(*) Bếp mẹ bếp con: Dưới chế độ quân quản, chiều về tù cải tạo chưa bị nhốt vào phòng; do đó, đa số đều chế những cái bếp nhỏ đặt ngoài sân dùng nấu nướng mấy thứ rau cỏ kiếm được khi đi lao động trong ngày để ăn cho no thêm. Bọn cai tù dùng chữ "bếp mẹ bếp con" để phân biệt bếp nấu cơm cho cả trại và những cái bếp "cá thể" như vừa nói.

  |Trang bìa
1