Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA
Ðại Học Máu
 
CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY

Tất cả hố to kỳ này. Mọi suy diễn chủ quan về việc thả người ra khỏi các conex là vì áp lực của thế giới tự do, vì Mỹ đã chịu chi tiền tái thiết, vì mười bảy tấn vàng Thiệu đem theo bị CIA lừa lấy lại trao trả cho ngân khố Hà Nội vân vân và vân vân đều sai bét. Tất cả chỉ vì... chuyển trại.

Lệnh chuyển trại ban ra quá gấp và thình lình. Một cuộc khám đồ quy mô tại tất cả các trại được thực hiện trong cùng một buổi sáng đầu tháng bảy. Quản giáo và vệ binh thẳng tay vứt bỏ những gia sản góp nhặt của bọn tù. Lon cóng, dao kéo, búa kìm... là những thứ mười tên tù hết chín đều thu thập để có phương tiện sử dụng trong đời sống hàng ngày. Vĩnh chẳng có gì để phải lo âu hay bực dọc. Gia sản anh, nếu có, chỉ là những pô ảnh tuyệt vời mà anh đã chụp được và trữ nó trong óc trong tim và chỉ thần chết mới tịch thu được. Nhưng ông thầy xuất Nguyễn Thành Ðính thì khác. Ông vẫn bận rộn với những món quốc cấm như những lần khám đồ trước đó. Lần nào Ðính cũng bối rối tìm cách giấu đi mấy món như Kinh Thánh, cỗ tràng hạt và tượng Thánh giá nhỏ. Vừa thu đồ đem bày ngoài sân Vĩnh vừa quan sát chung quanh. Anh thừa biết cũng có lắm tay đang hốt hoảng tìm cách thủ tiêu những trang nhật ký, những bài văn bài thơ viết trong lúc không lấy gì làm kính yêu bác đảng cho lắm.

Sau màn khám đồ là màn tập trung tất cả các dụng cụ sản xuất để kiểm kê. Nói chung mọi "tài sản" của nhà nước đều phải đúc kết lại phẩm lượng và báo cáo đầy đủ cho quản giáo khối. Riêng bếp núc và nồi niêu xoong chảo được lệnh để nguyên như cũ.

Và như thế, ngày 13-7-1976 hầu như tất cả các trại tù ở Trảng Lớn đều được lệnh "cơ động" tại trại, có nghĩa là nghỉ lao động, hành trang sắp sẵn, và ngồi chờ lệnh khung. Vào quãng 10 giờ sáng quản giáo Cư đem danh sách những người phải chuyển trại xuống khối. Ai cũng hồi hộp chờ đợi. Khối trưởng Trai đọc danh sách và Vĩnh có tên đi. Gần 20% khối 2 ra đi và dĩ nhiên không ai biết mình sẽ đi về đâu. Thả ư? Không thể được. Danh sách người đi toàn những thứ Dù, Biệt động, Thuỷ quân Lục chiến, 101, Lôi hổ, Biệt cách dù, An ninh Tình báo, Chiến tranh Chính trị. Nghĩa là toàn thứ dữ. Thế mình có dữ không nhỉ? Vĩnh lẩn thẩn tự hỏi rồi tự trả lời: Không, mình hiền khô đấy chứ. Nhưng hiền khô tại sao mình lại được vinh hạnh nằm chung danh sách với những người hùng của chế độ cũ? Rồi đây chúng sẽ đưa mình đi đâu? Rừng thiêng nước độc? Phú Quốc hay Côn Sơn? Lào Kay hay Tuyên Quang?

Vĩnh ngồi tựa lưng vào túi hành trang trong một góc nhà. Anh không buồn nhìn những xao động chung quanh. Lòng anh mang tâm trạng y một cậu học sinh đệ thất, bãi trường với nguyên sự xúc động phải xa bạn bè. Anh ngồi nhớ lại Phạm Ðiểu ngang tàng ương ngạnh (và có lẽ cũng là người Quảng Nam duy nhất thù ghét sự... cãi nhau); Ðặng Thế Tiến thông minh dí dỏm; Nguyễn văn Hoá lù đù nhưng thâm ra phết; Phạm Kim bị thịt lúc nào cũng toa toa moa moa, lúc nào cũng lếch tha lếch thếch; Nguyễn Tất Ứng ít nói nhưng rất tha thiết một ngày về; Ngô văn Tuyên với câu than bất hủ "điên cha nó cả người"; Nguyễn Ngọc Ðỉnh có vóc dáng nhanh nhẹn của một anh thầu khoán hơn là một y sĩ; Ðặng Xuân Bính đái xuống giếng của quản giáo; rồi ông già Chuân với bệnh nghiến răng; "chị" Hảo thút tha thút thít như con gái; ông Thiệu mù chữ; Phạm văn Dự người thì lùn mà trình độ nói dóc thì cao, dám nhận trách nhiệm trước tập thể làm những việc hắn chưa bao giờ từng làm. Trong sự hồi tưởng của Vĩnh cũng nổi lên hình ảnh cái chết quằn quại của Ðặng Ðình Tùng. Tùng đã uống mười sáu viên chloroquine để phản đối sự nhục mạ của tên quản giáo khối. Rồi cái chết tan nát của Nguyễn Xuân Dung, thê thảm của Phương, của nhiều người khác nữa mà Vĩnh không thể nhớ tên. Xa hơn, hình ảnh của Ngô Nghĩa bên L2, người tử tội nhưng mãi đến lúc bị lôi ra bãi bắn và bị bịt mắt mới biết mình bị xử bắn.

Trong cuộn phim quay ngược qua trí nhớ Vĩnh, lạ một điều là những hình ảnh ác độc, bẩn thỉu, đê tiện của bọn cai tù lẫn bọn chó săn tự nguyện cứ dính vào nhau như những tấm phim hư và anh không thể nhìn thấy nó cách rõ rệt nữa. Dù sao, mỗi đời người vẫn có hai nơi để nhớ nhất, nơi người ta sinh ra và nơi người ta chịu khổ nhục. Trong những con người của hoàn cảnh khổ nhục kéo dài mười ba tháng nơi đây, Nguyễn Thành Ðính là người ghi đậm nét nhất trong lòng Vĩnh.

... Ðính ơi, đêm ấy tao ngủ ngon lắm. Bao giờ tao mới quên được giấc ngủ sau khi mày đưa xà bông Dial cho tao tắm, đưa thuốc muỗi cho tao bôi trị ghẻ. Và làm sao tao quên được cái tình bạn kỳ lạ ở mày, quên được những săn sóc, cái đùi gà dính lông, miếng lòng heo bùi béo, những miếng vỏ đại già. Tao còn nhớ rõ lắm Ðính ơi, nhớ rõ hình ảnh lúc mày bước vào nộp mạng nơi sân trường Lê Quang Ðịnh với dáng người tầm thước, khoẻ mạnh, trầm tĩnh, tay xách va-li. Ôi, có lẽ một triệu tù nhân vào giai đoạn lịch sử ấy chỉ mỗi mày là người xách va-li vào tù. Tao là người đầu tiên mắng xéo mày khi mày nhập vào tổ ăn mười người trong có tao, "Khùng, đi tù mà như đi du lịch!" Nhưng ngay đêm đó tao đã là bạn mày và mày đã là bạn tao. Chúng ta nằm trên hai cái băng ghế kê ngoài ban-công nhìn sang phía lăng đức Tả quân Lê văn Duyệt đang chìm trong mưa. Ta đã nói với nhau những gì đêm đó? Lúc ấy bên chúng ta không còn vợ, còn con, còn đàn em dại nữa. Cái mặt nạ lạnh tanh, chịu đựng một cách bình tĩnh, mà gần hai tháng qua chúng ta phải đeo để đóng kịch trong vị trí làm chồng, làm cha, làm anh để trấn an những người thân trong gia đình bây giờ đã rơi xuống. Còn đợi gì nữa mà không để cho hai dòng lệ vong quốc rơi rụng cho nhẹ nhõm tâm hồn! Ðính ơi, mày có công nhận là tao đánh hơi tài không? Nghe cái giọng Bùi Chu chân chất của mày, nhìn sự ngăn nắp khi mày mở va-li lấy ra cái điếu cày nhỏ, sửa lại cho ngay ngắn cây Thánh giá tí ti gắn nơi góc nắp va-li, tao dọ dẫm ngay:

"Xưa tu đâu?"

Mày thật như đếm:

"Dòng Ðồng Công Thủ Ðức."

"Ồ, tao cũng có học nội trú ở đó gần hai niên khoá hồi mới vào Nam, nhưng sao mày xuất?"

"Vì lòng tao không đủ rộng để làm cha tất cả. Tao chỉ có thể làm cha một vợ ba con thôi."

"Ra thế."

Ðính ơi, tao vốn chúa ghét những tay tu xuất. Tao không dám vơ đũa cả nắm, nhưng có thể cả quyết chín mươi chín phần trăm những ngài tu xuất đếch thế nào là bạn tao được. Cái gàn dở ấm ớ nửa đời nửa đạo, cái kiêu căng rất hề của họ tao chịu không thấu. Không ngờ một phần trăm sót lại lại có mày. Mười ba tháng đồng cam cộng khổ. Rồi dòng đời lại sắp chia rẽ chúng ta. Mày là trung uý truyền tin, dù gì cũng là thứ "nhẹ tội" với chúng nó, nên có lẽ vì vậy mày được (?) ở lại. Tao thứ dữ, dù chính tao đang tự hỏi chẳng hiểu tao có dữ thật không, chỉ biết mình sắp bị (?) lôi đi cùng đợt với đủ mặt anh hùng hảo hán, với những bác tài xế, chú thợ sơn, anh lơ xe hiền khô chỉ kẹt mỗi cái tội rất mập mờ: CIA.

Một cái đập mạnh vào vai làm Vĩnh choàng tỉnh. Bác sĩ Ðỉnh xà xuống cạnh Vĩnh. Anh ta nhếch mép khoe hàm răng hơi mất trật tự, cười vui vẻ:

"Gì mà ngồi buồn thế ông? Biên chế loanh quanh đây thôi."

Vĩnh gãi cằm:

"Nội việc phải xa các ông cũng đủ làm tôi buồn rồi."

Ðỉnh nhấc cái điếu cày lên miệng kéo chơi.

"Mới ngày nào ông tập cho tôi kéo thuốc lào dưới bếp, say tí nữa đâm cha nó đầu vào bếp. Tụi nó chộp tôi không kịp chắc đã thành Cẩm Nhung rồi. Giờ rít rành như một anh nông dân chính hiệu lại không có nổi bi thuốc đãi nhau khi chia tay." Ðỉnh ngẫm nghĩ một thoáng, sau cùng anh nói nhỏ, "Tại sao không hy vọng chúng nó thả các ông trong đợt này nhỉ?"

"Thả cái con khỉ! Nó đã nói chuyển trại ông không nghe sao?"

"Thì ông cứ giả thử như vậy đi," Ðỉnh vừa nói vừa moi trong túi quần ra một mẩu giấy nhỏ. "Này Vĩnh, nói thật tôi quý ông nhất khối. Sau này mà gặp lại ông chắc thú lắm. Cứ giả thử trời thương, chúng đem các ông về thả ở căn cứ Sóng Thần lấy tiếng chơi với quốc tế, ông chịu khó mò sang quận 8 bảo cho vợ tôi biết tôi đang ở đây. Vợ tôi tên Trang, cũng dân trường nhạc đấy. Ông cất cái địa chỉ của tôi vào đáy sắc nhá!"

Dù thấy sự lạc quan của Ðỉnh hơi tếu nhưng để vui lòng bạn, Vĩnh cũng nhận lấy mảnh giấy nhét vào túi áo.

Ðỉnh vừa lui gót thì một lô anh em cùng tổ kéo đến. Tổ A3 có ba người ra đi kỳ này: Vĩnh, Sanh và Bính. Nhớ ngày nào Vĩnh còn là người bị anh em ghét nhất trong tổ do cái tật hay chửi xéo của anh. Ở giai đoạn đầu không bực mình sao được khi ban ngày đi lao động quần quật, chỉ vì một hạt muối, một lưng cơm, chỉ vì hơn kém nhau một thước đất cuốc, một gốc cây trồng, đêm về anh em đưa nhau ra mổ xẻ, đấu tranh, phê bình, kiểm thảo như thù hận nhau từ mấy kiếp. Lắm lúc họ còn đốt đèn lên để đấu tố nhau, để vạch áo cho kẻ thù xem lưng nhau. Những chuyện như thế đã khiến Bính đập lộn với Trợ, và suýt nữa Hải ăn của Vĩnh cái xẻng vì nó đấu Vĩnh ngay giữa hiện trường lao động, "Anh chưa tiến bộ. Anh cố ý chai lười lao động. Ðang lao động thì anh đi ỉ... Ỉ... gì đến nửa tiếng đồng hồ? Anh chỉ kiếm cớ chui vào bụi ngồi tránh nắng thôi. Thử hỏi cả nước mỗi người đi lao động đều ăn gian của nhà nước một ngày nửa tiếng như anh thì đất nước này thiệt bao nhiêu thế kỷ để phát triển?" Sau này, chẳng hiểu do đâu tự dưng anh em đâm ra quý Vĩnh. Anh đoán có lẽ anh đau yếu liên miên, đau thật chứ không phải giả như anh em nghi ngờ lúc ban đầu. Thứ nữa, anh là người duy nhất trong trại bị bọn an ninh kêu lên kêu xuống về vụ viết lách ngày xưa.

Giờ thì những bạn cùng tổ ấy đang vây lấy Vĩnh. Anh hiểu họ đang ái ngại thật nhiều cho tương lai của anh. Qua cái danh sách những người ra đi, không nói ra nhưng họ vẫn tin rằng Vĩnh sẽ phải đi về một nơi tối tăm hơn, đày đoạ hơn, ngày về nếu có cũng xa xôi hơn, và nhất là với riêng Vĩnh, một kẻ đau ốm kinh niên, ngày về coi mòi khó mà có được. Cùng với những lời khuyên, họ trấn an, họ giắm giúi cho Vĩnh một nhúm muối, một cục đường, tí thuốc rê. Ðặc biệt hơn, Quách Tứ tặng cho Vĩnh cái áo treillis anh ta rút thăm trúng hồi trung thu. Tứ bảo, "Ðừng lo lắng nhiều quá đau ốm thêm khổ. Biết đâu nhờ yếu đuối ông lại được về trước bọn tôi. Mai sau nếu tôi gặp lại ông Quách Tấn chú tôi, tôi sẽ nói với ông ấy rằng có ông ở bên tôi hơn một năm ở Trảng Lớn này."

Vĩnh không tránh khỏi ngậm ngùi trước tình chiến hữu của các bạn. Cả một đoạn đường dài đã đi qua, giờ ngồi nhìn lại anh mới thấy rằng trừ vài tên cốt thú đội lốt người kỳ dư chẳng ai "tiến bộ" cả, chẳng ai có thể bỏ anh em mà chạy theo cộng sản cả. Có chăng tất cả chỉ mang thân phận của những kẻ gặp trận đại hồng thuỷ, chẳng còn ai cứu nổi ai, và vì thế họ phải mạnh ai nấy bơi để tự cứu lấy mình. Có người bơi đúng cách; có người bơi sai cách; có người còn giữ được sáng suốt, cố bơi mà không níu lấy ai; cũng có người yếu bóng vía, thiếu tự tin, níu quàng níu xiên lấy người khác trong cơn hốt hoảng mà không hề nghĩ làm thế chỉ bầy kên kên đang bay trên đầu là đắc chí, vì ở cuối ghềnh kia chúng chắc chắn sắp được rỉa rói thêm những xác chết.

Bốn giờ chiều những hồi kẻng đinh tai nhức óc từ các trại thuộc trung đoàn 4 đua nhau rền vang. Ðến lúc này Vĩnh mới nhớ ra những tiếng kẻng, nhớ ra để nỗi hãi hùng trong lòng lan nhanh như bóng chiều ta. Trời ơi, anh không ngờ mình đã đi hết một đoạn đường Núi Sọ thời mới dài cả mười ba tháng trời dưới sự giục giã của những tiếng kẻng. Mỗi ngày đời sống của lũ tân nô lệ thời Hồ bị chi phối bằng mười ba tiếng kẻng: kẻng báo thức, kẻng tập họp đi lao động, kẻng xuất cổng trại, kẻng dứt lao động buổi sáng, kẻng ăn trưa, kẻng nghỉ trưa, kẻng hết giờ nghỉ trưa, kẻng tập họp đi lao động buổi chiều, kẻng dứt lao động buổi chiều, kẻng cơm chiều, kẻng tắt lửa bếp, kẻng tập họp điểm danh khối buổi tối và kẻng ngủ. Ngoài mười ba tiếng kẻng cố định ấy đôi khi có nhiều tiếng kẻng bất thường khác, chúng thường làm tù đứng tim như kẻng báo động có người trốn trại, đặc biệt tiếng kẻng chiều nay, nó như tiếng kẻng đưa tiễn những linh hồn ở tầng đầu địa ngục xuống tầng thứ hai, sâu hơn, nóng hơn và xa trần gian hơn.

Vĩnh cố hăng hái đứng dậy. Quách Tứ cầm giúp tay nải để Vĩnh bước ra cửa với nhiều người khác. Khối trưởng Trai và các bạn lần lượt đến bắt tay Vĩnh và những người sắp ra đi. Bác sĩ Tuyên đứng một góc nhà mắt rưng rưng. Vĩnh đi thẳng ra chỗ tập họp. Anh nhận ra phía trước các khối bạn cũng đều diễn ra cảnh nhốn nháo và bùi ngùi như nhau. Giờ Vĩnh mới nhớ đến những người bạn thân ở các khối khác. Chà, mình bậy quá. Anh tự trách. Khi nãy quên không chạy một vòng xem ai đi ai ở và chia tay những kẻ ở lại cho phải lẽ. Giờ đã tập họp đến nơi, muốn cũng chẳng kịp nữa!

Vừa tập họp xong thì một đoàn xe Molotova đã ầm ầm tiến vào cổng trại. Bọn quản giáo và bọn vệ binh súng ống tua tủa chạy về các khối. Mươi phút sau đám ra đi tuần tự bước về phía những chiếc xe đã được chỉ định. Vĩnh nhìn sang phía khối 4. Anh thấy Ðặng Thế Tiến cũng tay xách nách mang như mình. Không rõ Hoá và Tạc ra sao.

Nguyễn Tất Ứng từ khối 1 phóng về phía Vĩnh. Ði theo hắn có Bùi Công Kiện của khối 3. Ứng chỉ đứng nhìn Vĩnh bùi ngùi, còn anh bạn cũng đồng quân chủng Bùi Công Kiện thì nhảy tới ôm lấy Vĩnh. Nó nói, "Xin Chúa và mẹ Maria phù trợ ông cách riêng," Kiện nghẹn ngào. "Cứ tin có ngày mình gặp lại." Nói rồi Kiện bỏ Vĩnh ra và lầm lũi đi thẳng.

Ứng tần ngần lựa lời:

"Nếu giả như mày được thả," Ứng nói, "về hôn thằng Nguyên cho tao một cái. Mày muốn nói gì với tao không?"

Vĩnh ngó bạn cười cười:

"Mày cứ làm tao như là Zarathustra không bằng."

Sức bình tĩnh của hai đứa có lẽ chỉ đến đó thôi. Cả hai ôm lấy nhau rồi buông nhau ra lập tức. Ứng không nói thêm lời nào. Hắn bước đi thật nhanh, như chạy trốn.

Lúc Vĩnh trèo lên xe, một chút nữa anh ngã ngửa vì có người níu lấy cái túi đeo vai của anh. Vĩnh vội nhảy ngược xuống khỏi tấm bửng xe. Anh ngoái lại. Ðính đang đứng sát người anh. Ðôi mắt nó cũng đỏ hoe. Nó không nói không rằng, chỉ dúi một bịch khá lớn vào túi đeo của Vĩnh. Nó nói vội trong sự ồn ào chung quanh. "Ði bình an. Xin Chúa quan phòng mày cách riêng."

Rồi Ðính lùi vào đám đông đứng hai bên tiễn đoàn người ra đi đang lần lượt leo lên xe.

Trên những nẻo đường đêm, ngồi trong lòng chiếc Molotova chật như nêm cối, mặc cho anh em bàn tán đủ chuyện, Vĩnh chỉ muốn làm sao ngủ được một giấc. Anh sực nhớ đến cái bịch Ðính nhét vào túi của mình. Vĩnh loay hoay tìm một thế ngồi cho vững và thoải mái. Anh chậm rãi moi cái bịch ra. Trong cái bịch được gói cẩn thận bằng giấy dầu Ðính đã gửi theo cho anh một gói muối hột và một gói ớt khô. Vĩnh buồn buồn nghĩ bụng. Chắc lại toáy của kho hậu cần đây. Tội nghiệp, một ông thày xuất ngoan đạo chỉ vì thương bạn đã phạm điều răn thứ 7 của Chúa. Khi xem bịch muối, Vĩnh chợt chú ý đến một cái hộp nhỏ gò bằng tôn thật xinh xắn. Anh cầm cái hộp ngắm nghía rồi mở ra. Cây Thánh giá bé tí quen thuộc của Ðính nằm yên trong hộp, chèn chung quanh cây Thánh giá là năm đồng bạc mới.

Hòn đá lòng Vĩnh cứ thế ứa lệ suốt một đêm dài.
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1