Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA


Ðại Học Máu
CHƯƠNG HAI

Những ngày kế tiếp thoải mái hiểu theo kiểu tên cán bộ đảng nói, là mọi người đều được tham dự vào những công tác tạp dịch, sửa sang lại nơi ăn chốn ở, đào hầm cầu, đào giếng, đắp bếp, nói chung là công tác lao động chưa có gì đáng gọi cực nhọc. Chỉ riêng khối 10 hơi kém vui vì tên Cư hầu như suốt ngày chạy lồng lộn duới khối, nhất định không để cho ai được đứng yên một phút.

Với tinh thần giật gấu vá vai, chẳng mấy chốc bằng những miếng ván thông tháo từ các thùng đạn pháo 105 ly, bằng những thùng phuy đập dẹp, bằng những chiếc đinh chế bằng kẽm gai, những dây thừng bện bằng sợi bao cát, bằng những dụng cụ kềm kéo búa cưa toàn tự chế, bọn tù đã tạm lo xong nơi ăn chốn ở. Có gay go chăng chỉ riêng vấn đề nước. Những cơn mưa bất chợt của tháng Sáu chỉ có thể giải quyết được nước ăn uống cho nhà bếp, còn nước tắm rửa quả là một vấn đề.

Thủa ban đầu cứ chừng ba ngày một, tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 dưới bí số L4T1 được một chuyến tiếp tế nước bằng xe lôi bồn. Thật là khủng khiếp cho cảnh giành giật. Chiếc xe vừa đậu ngoài hàng rào là tù từ bên trong, kể cả các người đẹp của biệt đội Thiên Nga lẫn các nữ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà bên khối 14, đã mỗi người một thùng đại liên phóng ra. Trong chớp mắt chiếc xe bị phủ kín, y một con bọ hung sa cơ thất thế bị một bầy kiến đói làm thịt không thương xót.

Phần Vĩnh, sau những giờ lao động và lo miếng ăn miếng uống xong, anh chạy khắp nơi tìm gặp bạn bè và với hy vọng mong manh được gặp lại các anh em ruột của anh, những người mà anh biết chắc giờ này đã đều nằm trong các trại cải tạo. Nhưng ngoài Hiến, sĩ quan phụ tá cũ của anh và Ứng, Kim, bạn đồng quân chủng, Vĩnh chưa gặp thêm một ai. Cũng may, ít ngày kế Vĩnh quen thêm một lô bạn mới chẳng hạn Nguyễn Ngọc Trụ (nghe nói là cháu nhà báo Dzoãn Bình), Ðặng Thế Tiến, Nguyễn văn Hoá, Nguyễn Thành Ðính, Ngô văn Tuyên v.v. . . Thường những lúc nghỉ ngơi hay khi chiều xuống, cả bọn tụm lại đánh cờ hoặc nấu nướng linh tinh những thứ đem theo ăn uống với nhau.

Những tay thuộc quân chủng Hải quân như Vĩnh, Ứng hay Kim thường bị anh em cật vấn nhiều hơn cả bằng câu hỏi: "Tại sao các ông không chạy?" Họ cứ nghĩ rằng tất cả các sĩ quan Hải quân đều là những người lúc nào cũng có phương tiện tàu bè để đào ngũ sớm hơn ai hết.

Mỗi lần bị hỏi, Kim thường cười nhạt:

"Chứ bộ chỉ có Dù hay Thuỷ quân Lục chiến mới có những đơn vị tử thủ hay sao?"

"Giờ thứ 25 rồi còn thủ cái gì!"

Vĩnh hiểu các bạn hỏi để mà hỏi. Họ thừa biết không thiếu những đơn vị tiền đồn mà cấp chỉ huy đã mất liên lạc với thượng cấp ngay từ những ngày 27, 28. Họ loay hoay không biết xử trí ra sao với đơn vị và thuộc cấp. Mọi tin tức ở Sài Gòn họ mù tịt. Thậm chí có nhiều cấp chỉ huy đóng sâu trong sông lạch không biết đến cả tin tổng thống Hương đã bàn giao quyền lực cho đại tướng Minh từ chiều 28-4; và hình ảnh dân Sài Gòn, trong có nhiều tướng lãnh, đã nháo nhào lên tìm mọi cách bỏ của chạy lấy người.

Tuy nhiên, việc chạy thoát của họ đối với người ở lại hầu như không mấy ai đặt thành vấn đề, ngoại trừ đối với một số người thật sự có trách nhiệm trước quân đội. Làm sao mà trách được một anh thợ mộc làm cho hãng RMK, khi mà anh thấy thiên hạ ùn ùn bỏ chạy, trong lúc anh có thừa giấy tờ đi làm cho Mỹ để trình toà đại sứ Hoa Kỳ xin cho cả vợ con di tản? Làm sao trách được chị đàn bà làm cho căn cứ Long Bình, khi mà chị nghe thấy đủ thứ tin đồn, rằng nếu chị ở lại, chị sẽ là một trong những đối tượng chính cho cộng sản ra tay nhúng chị vào biển máu? Cũng chẳng thể trách được một thằng ma cạo hèn nhát trốn lính, bỗng một sớm trở thành một phóng viên "nổi tiếng" nhờ những bài phóng sự bới móc đời tư nhằm tống tiền và lường gạt thiên hạ; kể cả những nhà văn chân chính chống cộng đầy mình, nhưng lúc cần bảo vệ đất nước, ông ta tự biết mình chẳng còn một mũi nhọn nào khác ngoài cây bút -- một thứ đã hoàn toàn biến thành vô dụng khi giặc đã mấp mé ngoại thành. Có rất nhiều thành phần không nên trách mà còn mừng cho họ đã chạy thoát, kể cả những thứ gọi là ông tướng này ông tá kia, thứ tướng tá đã về vườn nhưng vẫn giữ nguyên cố tật phách lối huênh hoang, tuyên bố phét lác, đại khái rằng thì là đồng bào cứ yên tâm, nếu có phải di tản thì nhất định tôi sẽ là người di tản sau cùng, nhưng thực tế vừa nói xong ông ta đã cút mất. Những thứ ấy trách mà làm gì. Người ở lại luôn thương họ như thương lũ ca nhi. Thế nhưng lịch sử và những người ở lại khó mà không thống trách những kẻ còn đủ trí nhớ để nhớ ra rằng mình từng có một đơn vị dưới tay, và mình đã bỏ nó mà chạy không một lời từ giã, dù lúc mình đến với nó, nó đã lên kèn lên trống đón mình như một người cha, người anh.

Lắm lúc Vĩnh tự hỏi không hiểu những người đã ra đi có bao giờ nghĩ tới những người còn ở lại? Và giá như họ biết rằng những người ở lại đã khóc khi buông súng trước lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, họ sẽ nghĩ sao về những giọt nước mắt ấy? Chắc họ sẽ nghĩ đó là giọt nước mắt thường tình của những kẻ mấp mé bờ tử sinh. Không, không phải vậy đâu. Phải là người ở lại mới biết được cường độ của lòng yêu Tự Do như thế nào, và sự tủi nhục thấm thía ra sao khi thấy quân thù lê gót trước mắt ngay giữa thủ đô của mình. Lúc ấy người ta mới thấy nước mắt người đàn ông không hiếm như đã tưởng. Nó đã giàn giụa chảy trước những hình ảnh thân quen vô cùng. Ði ngang nghĩa trang quân đội Biên Hoà, nhìn bức tượng Tiếc Thương bị kéo sập xuống, họ khóc mùi như một đứa trẻ. Ði ngang dinh Ðộc Lập nhìn những vết xích sắt T.54 cày trên cỏ họ rơi lệ như mưa. Nhìn bầy trẻ nhỏ vô tư đùa chơi trong nắng họ khóc như người bị cháy nhà; không, hơn như thế, phải là cháy cả thành phố, cháy cả đất nước thân yêu và tuồng như chỉ còn mỗi mình họ sống sót. Những trẻ nhỏ kia, trong đó có con em họ, rồi sẽ đi về đâu? Chao ôi ai mà biết được. Nỗi đau đớn của người ở lại là nỗi đau đớn của một chứng nhân, đã nhìn thấy trong một khoảng khắc sự sụp đổ của tất cả dĩ vãng, hiện tại và tương lai mà họ không còn tìm đâu ra một lý do để hiến thân xây dựng nó trở lại.

Nhưng người ở lại nào chỉ có riêng giới cầm súng chiến đấu. Còn bao nhiêu thành phần khác nữa. Không thể nói càn rằng những thành phần buôn thúng bán bưng, những bác phu xe, những anh thợ sắp chữ, những em bé bán báo. . . là những người không biết tới hiểm hoạ cộng sản. Họ biết và họ đau đớn không kém ai khi đất nước rơi hoàn toàn vào tay cộng sản. Nhiều khi họ còn đau đớn hơn nữa vì họ không biết cách bày tỏ, không thể nói ra. Vĩnh không bao giờ quên được hình ảnh người đàn bà bán chè đậu hũ nơi phố anh ở. Ngày nào cũng thế, cứ đúng một giờ trưa là bà đi qua nhà anh, trên vai nặng trĩu quang gánh, một bên là thùng đậu hũ, bên kia thùng nước đường gừng với bát với thìa và trên tay còn sóng sánh một sô nước có thả vài miếng lá chuối. Bà đã bán chè đậu hũ như thế từ ngày Vĩnh mới di cư vào Nam, tuổi lên mười, cho đến khi cộng sản tràn vào Sài Gòn. Khi Vĩnh đỗ tiểu học, bà đã mừng anh một bát đậu hũ lớn không tính tiền. Khi anh học đại học bà cứ đùa đòi làm mối. Khi anh đi lính, rồi lấy vợ, rồi đẻ con, bà nhiều lúc nghỉ mát dưới hiên nhà anh, nói đùa dăm ba câu, rồi cao hứng cho thằng con lớn của anh ăn miễn phí như từng cho bố nó hai mươi năm về trước. Khi cộng sản tràn vào, đơn vị tan rã, Vĩnh trở về nhà vào một buổi trưa tháng năm. Người đầu tiên anh nhìn thấy ngồi trước hiên nhà anh vẫn là bà bán chè đậu hũ với quang với gánh với thùng với sô.

Thấy bà, Vĩnh ngậm ngùi hỏi đùa:

"Bác không chạy à?"

"Chạy đi đâu hả cậu?"

Vĩnh vào nhà lấy mời bà một ly nước đá lạnh. Anh dọ dẫm:

"Giải phóng vào chắc bác sẽ đỡ cực nhiều."

Ngoài dự tưởng của Vĩnh, phản ứng của bà bán chè đậu hũ đã làm anh sượng sùng.

"Cậu Vĩnh à," bà nói. "Thú thật tôi ít học, sống đầu tắt mặt tối thật đấy, nhưng khi cùng di cư vào đây, tôi nghĩ tôi hiểu cộng sản trước cậu nhiều đấy chứ."

Nói rồi bà ta có vẻ giận, Vĩnh phải giả lả xin lỗi:

"Tôi đùa đấy bác ạ," Vĩnh chắt lưỡi. "Khổ quá, không biết rồi ra sao nữa đây!"

Bà bán chè bỗng gay gắt:

"Ðến giờ này mà cậu còn chưa biết rồi sẽ ra sao nữa à? Quan quyền như cậu thì tôi chưa biết ra sao thật đấy, chứ còn ngay cái hạng như tôi, chúng nó cũng sẽ ghép tội buôn bán linh tinh, chai lười sản xuất, đường ra nông trường cũng chẳng bao xa."

Câu nói của bà bán chè đậu hũ đeo theo Vĩnh mãi đến sau này. Anh cứ thắc mắc những người như bà ta không biết đau khổ tới đâu khi mà ở xã hội cũ suốt đời khổ cực buôn thúng bán bưng; và khi cộng sản vào, không với đường lối cắt tí ngón dài bù cho ngón ngắn để có được một bàn tay gồm những ngón bằng nhau, mà chắc chắn chúng sẽ đi gọn một đường dao, và xã hội sẽ có dạng của một bàn tay cụt đồng đều, thì những người như bà sẽ ra thế nào?

Những ngày đầu lao tù Vĩnh như người mất hồn. Ðủ thứ chuyện đời luôn đặt ra cho anh những vấn đề và nỗi xúc động của trái tim buộc anh phải tìm lời giải đáp; thế nhưng, chưa bao giờ anh giải đáp cho được trọn vẹn một vấn đề. Tuổi anh chưa đủ già để có thể mỉm cười trước mọi biến cố, cho nên nỗi đau ngất người vẫn ngày đêm dằn vặt anh trước sự biến thiên của lịch sử -- một sự biến thiên mà lắm lúc anh thấy mình quá mỏng để chịu đựng, quá nhỏ để cưu mang. Và hiện nay, điều khó khăn nhất của Vĩnh là đang cố gắng hết sức để hoà mình vào cuộc sống mới, cuộc sống lao tù cộng sản. Ðiều khó khăn hơn nữa là làm sao Vĩnh phải tìm cho được sự khát sống trở lại. Ðây là một yếu tố vô cùng cần thiết để thực hiện được dự tính của anh: Anh sẽ là một phóng viên của một chiến trường mới, chiến trường hậu chiến.

Trong giai đoạn của tuần lễ đầu, một phần bọn cai tù đang kín đáo học tập gấp rút chính sách đối xử với tù cải tạo và phải lo toan nhiều trong việc tổ chức và điều hành trại, một phần anh em đa số vẫn tin việc học tập cải tạo không thể là một việc lâu dài, do đó sự sinh hoạt chỉ mang tính cách ăn xổi ở thì, miễn sao có miếng cơm ăn, có một chỗ nằm, và có dăm ba tên bạn cùng tần số để tán dóc cho qua những giờ phút tạp dịch trong trại.

Mỗi chiều trưởng khối nhận lệnh lên tiểu đoàn "giao ban," một động từ cộng sản dùng để chỉ việc lên gặp cán bộ trực nhận lệnh, và lệnh đó chỉ quanh quẩn vài việc:

1- Nhắc nhở các cải tạo viên yên tâm học tập, tuyệt đối tin tưởng vào chính sách cải tạo trước sau như một của cách mạng; đừng nôn nóng ngày về và đừng bàn tán những điều không có lợi cho bản thân và gia đình.

2. Phải tích cực cải thiện nơi ăn chốn ở vì sau đợt này sẽ còn nhiều đợt khác gồm đủ các thành phần xã hội được cách mạng cho về đây học tập. Người đi trước phải có nghĩa vụ tạo điều kiện cơ sở vật chất cho người đi sau.

3. Phân phối các tổ cho những công tác tạp dịch vào ngày kế tiếp.

Một buổi chiều sau giờ họp khối, sau khi thông báo lại những nhận xét của cán bộ quản giáo về những ưu khuyết điểm trong thái độ, ăn ở, lao động v.v. . . khối trưởng Trai cho biết ngày mai sẽ tập họp toàn trại để nghe trên đọc một bản thông cáo quan trọng. Ngay đêm đó, đề tài về cái gọi là "bản thông cáo quan trọng" được các bình luận gia triệt để khai thác. Cũng tương tự các nhóm khác, nhóm của Vĩnh gồm dăm người xầm xì bàn tán tới nửa khuya.

"Về, nhất định về," anh chàng Hải quân trung uý kiêm hoạ sĩ ‘nghiệp dư’ Phạm Kim hý hửng khẳng định. "Không có lý do gì nó lại dám giam mình lâu hơn mười ngày."

Ứng dè dặt đồng tình:

"Tao cũng nghĩ thế."

"Các ông ấm ớ bỏ mẹ đi. Về là về, nghĩ với ngợi gì nữa." Ngô văn Tuyên, anh chàng trung uý bác sĩ trông phốp pháp điển trai mới ở tù chưa được tuần lễ đã nhanh chóng bỏ nghề bác sĩ theo học nghề phóng viên, suốt ngày chạy quẩn săn tin như một anh nhà báo chuyên nghiệp. Tuyên vừa kéo lại tấm bao cát lớn dùng lót chỗ nằm, vừa tiếp, "Cứ lấy lẽ thường mà suy thì điều nó phải thả mình là điều hợp lý nhất. Cá nằm trốc thớt còn chạy đường nào. Ðất nước đã nằm trong tay chúng nó, chả lẽ chúng nó đem giam cả triệu thằng để nuôi báo cô? Các ông nên nhớ một điều, rốt cuộc chúng nó cũng phải tái thiết đất nước. Nhưng tiền tái thiết đào đâu? Ðào ở Mỹ chứ ở đâu bây giờ. Giam mình lại trả thù? Xin lỗi, xia Mỹ nó cũng không cho. Mặt khác miền Nam đã được điện tử và cơ giới hoá ở hầu hết các mặt. ‘Mỹ cút nguỵ nhào’ đã để lại một núi máy móc điện tử cơ khí. Thử hỏi một lũ cán bộ i tờ từ Bắc vào sẽ làm nên cơm cháo gì không? Rốt cuộc lại cũng chúng mình thôi. Ít nhất năm năm tới, chủ nhân ông trên mọi khía cạnh thực tế ở miền Nam này vẫn là ta!"

"Chứ bộ nó giam ông lại, dí súng vào lưng ông, bắt ông lái máy cày, sửa máy điện tử, chế máy ủi đất thì Tây kiện nó à? Ấy là chưa kể nó có thể bỏ đói ông, ông lạy nó mà xin được phục vụ."

Một giọng nói khác tự dưng chen vào cắt ngang sự lạc quan của bác sĩ Tuyên. Anh ta là Ðặng Thế Tiến, một bạn mới của Vĩnh. Tiến người loắt choắt như một con khỉ. Anh tốt nghiệp chính trị kinh doanh và là một guitarist có hạng. Tiến mang cấp bậc thiếu uý và trước khi ngồi tù cộng sản anh xách cặp cho ông đại tá trưởng phái đoàn quân sự hai ba bốn bên gì đó ở Vĩnh Long.

"Tây không kiện nhưng Nga nó cười."

Lại một giọng nói khác. Ðây là giọng nói của Nguyễn Thành Ðính. Anh là một trung uý của cục Truyền Tin. Ðính gốc người Bùi Chu và từng là cựu chủng sinh của Dòng Ðức Mẹ Ðồng Công Thủ Ðức. Ðính có nhiều tài vặt và được anh em sớm đặt cho tước hiệu Vua Thuốc Lào vì anh hút thuốc lào, có nghề trồng thuốc lào và làm nõ điếu cày thật kêu. Ðính cũng là một trong những người bảo vệ lý luận "địch phải thả ta nếu như địch không muốn khiêu chiến với mấy chục triệu dân miền Nam là ông bà cha mẹ vợ con em út cháu chắt của ta."

Tiến chẳng chịu thua. Anh khều bao thuốc lá ra khỏi bụng, lấy một điếu, rồi quăng cả gói xuống trước mặt mọi người.

"Các ông có biết Marx rút được mấy kinh nghiệm trong thất bại của Công xã Ba lê không nhỉ?" Tiến chiếu tướng vào Vĩnh và Tuyên. "Vĩnh, mày có biết không?"

Vĩnh cười:

"Tao sẽ nói với mày được dễ dàng hơn nếu mày hỏi tao làm cách nào bấm được sáu nốt mi trên mặt đàn guitar."

Tiến ngửa mặt nhả khỏi, cất tiếng cười thật vui:

"Khà. . . khà. . . ông Tuyên dĩ nhiên chỉ biết làm cách nào lụi cái sơ-ranh to tướng của ông vài đít phụ nữ để chỉ những không đau mà lắm em còn sướng phát rên lên. Người thứ hai ở đây là me-xừ Vĩnh mà cũng không biết nữa thì tôi đành phải thưa thốt để các ông nắm cho vững vấn đề. . . mọt gông!" Vài tiếng xì xầm. Tiến cự, "Ðừng phản đối khi tôi chưa phát biểu xong. Thưa các quan đồng viện, thằng cố nội của bác Hồ vĩ đại ta đã nói gì? Nó nói rằng Công xã Ba lê đã thất bại vì hai nguyên do chính. Một là, cách mạng ngu bỏ mẹ, tràn vào Ba lê mà chỉ lo chiếm giữ các xí nghiệp trong khi quên phéng đi ngân khố và các ngân hàng, Marx định nghĩa hành động này là ôm lấy một cái xác chẳng còn giọt máu nào; hai là, cách mạng đã đùa dai, thả sĩ quan viên chức và các hàng giáo phẩm trở về Ba lê, hành động này là. . . là. . ."

"Buông súng nửa giờ trước khi toàn thắng!" Vĩnh nổi hứng nói chen vào.

"Ðúng, đúng," Tiến có vẻ khoái trá vì có người tiếp hơi cho câu chuyện của mình. "Thế cho nên, với đỉnh cao trí tuệ loài người của đảng ta, thưa các quan đồng viện, há đảng ta lại tái phạm vào lỗi lầm này nữa chăng?"

Câu phát biểu đầy chất bi quan của Tiến bắt mọi người phải suy nghĩ.

"Thôi dẹp đi mấy cha, khuya lắm rồi," một giọng xa lạ bỗng cất lên đầy vẻ cự nự trong đám người nằm ru giấc ngủ ngổn ngang trên nền xi măng. "Mình là quân nhân, bàn chuyện chính trị làm đếch gì."

Trước khi dợm đứng lên, Tiến lẩm bẩm chửi thề:

"Mẹ kiếp thằng này cho đi theo Cao văn Vện được. Không hiểu nó định nghĩa chữ chính trị như thế nào."

Ðám bạn bè Vĩnh cũng như bao nhiêu người khác đêm ấy tụ tập bàn tán lung tung. Mặc cho khối trưởng nhiều lần yêu cầu giải tán anh em vẫn ngồi lì. Tuy không nói ra, nhưng sau cùng ai cũng phải băn khoăn với câu nói của một anh chàng nào đó cất khẽ trong đám người đang ru giấc ngủ:

"Cứ cãi nhau đi rồi mai này sẽ rõ. Nhưng đừng quên nợ tình tha được, nợ tiền tha được, nợ tí máu cũng tha được, chỉ sợ nợ chính trị e khó có thể tha được."
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1