Tài liệu của Việt Nam
Human Rights Watch
Tác Phẩm của

 Hà Thúc Sinh
Thơ


Ðại Học Máu

Vài Truyện Ngắn

Tống Biệt Hai Mươi

Kịch một cảnh ba màn: 
Quyền Của Lửa

Hội Luận Nhà Văn Quốc Tế
July 01-1999

Liên lạc:

Vietnam Human Rights Watch
P.O. Box 578
Midway City, CA. 92655, USA


Ðại Học Máu
CHƯƠNG BỐN

Ðính được bầu làm trưởng ban Trang Trí khối 10. Hắn được dành cho một chỗ nằm tương đối đặc biệt ngoài mái hiên. Ðính khuân những thùng gỗ đựng đạn pháo vây lên thành vách, bên trong căng tấm poncho làm mái. Quả người ta không thể gọi nơi ngủ và làm việc của Ðính là hầm hay là hang. Ngày ngày Ðính chui trong đó để kẻ những khẩu hiệu cho khối do quản giáo đưa xuống.

Non một tuần lễ đã qua, một trong những rầu rĩ chung là lượng thuốc lá dự trữ đã thực sự cạn. Riêng Vĩnh đã hết sạch từ hai hôm nay. Ngoài những giờ lao động tạp dịch, buổi trưa Vĩnh hay mò vào giang sơn của Ðính, phần vì hắn dễ thương, phần vì hắn có thuốc lào. Có thể nói Vĩnh là một người trẻ nhập tịch làng thuốc lào trong tù nhanh và dễ nhất trong non một triệu tù nhân ngày nay. Thật là khổ khi cơm xong, nhất là thứ cơm hẩm Việt cộng mà không có tí khói cho đỡ tanh miệng. Lần đầu tập tễnh thuốc lào Vĩnh say đến mửa ra nguyên một phần cơm rau. Dần dần quen đi, anh đã biết ếm khói, biết làm thế nào để được lên thiên đàng sau khi hạ cái điếu cày xuống. Chơi với Nguyễn Thành Ðính, chẳng bao lâu Vĩnh còn được học hàm thụ cách trồng thuốc lào, cách sử dụng phân diêm phân lợn ra sao để thuốc lào say êm, không khói ngang mà tăng khói dọc. Nói chung chỉ ở tù non tuần lễ, nhiều quan chế độ cũ đã sớm phải gia nhập làng thuốc lào. Ðến giờ chỉ cần liếc qua màu thuốc, nhìn qua sợi thuốc Vĩnh đã có thể biết ngay đó là loại rin hay rởm (*).

Trưa nay, sau khi kéo một hơi thuốc lào, Vĩnh đặt điếu vào chỗ cũ và mơ màng nhìn Ðính. Hắn ngồi trước một dải băng dài làm bằng những bao cát khâu vào nhau. Hắn đang pha sơn.

Vĩnh hỏi:

"Kẻ chữ màu đỏ hả?"

"Họ đưa sơn gì mình kẻ sơn đó."

"Liệu sơn có ăn trên bao cát không?"

"Ăn chứ."

Vĩnh cầm lên mảnh giấy ghi các khẩu hiệu. Anh đọc qua một lượt, thấy câu nào cũng muốn phát ói. "Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng." "Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta." "Ðảng Lao Ðộng Việt Nam quang vinh muôn năm." "Ðảng Lao Ðộng Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước." "Học tập lao động là thước đo lòng yêu nước của mỗi người."

Vĩnh bỏ tờ giấy xuống, hỏi:

"Năm khẩu hiệu này ông tính kẻ trong bao lâu?"

"Khẩu hiệu mẹ gì mà dài quá, nhanh lắm cũng phải hai ngày."

Vĩnh la lên:

"Ông Ðính ơi ông làm không công mà ông cũng không biết nữa sao, hả trời!"

Ðính giật mình:

"Cái gì mà giữa trưa la lớn vậy, tụi nó đang ngủ."

"Kệ cha tụi nó. Ông tính làm hai ngày thật đấy hả?"

"Chứ sao bây giờ."

Vĩnh tính nói me-xừ Kim bên khối 12 hay 13 gì đó cũng từng ấy khẩu hiệu anh ta dự trù tới nửa tháng, nhưng nghĩ sao Vĩnh không nói. Anh đứng lên khom người chui ra ngoài sân, vừa lúc khối trưởng Trai từ ngoài chui vào. Vĩnh ngồi luôn xuống đống gạch rợp bóng dâm của một cây trứng cá cạnh hiên nhà. Anh lắng nghe những lời đối thoại vẳng ra từ chỗ Ðính.

"Ông Ðính ơi!"

"Gì nữa đây?"

"Thêm mấy cái nữa này."

"Sao lắm thế?"

"Tôi làm sao được. Trên họ đưa xuống các khối bắt thực hiện gấp."

Giọng Ðính càu nhàu:

"Ðúng là chế độ khẩu hiệu."

Giọng Trai hoảng hốt:

"Ông nói sao nghe ghê quá ông ơi. Bớt bớt lại giùm không kẹt cả đám."

Vĩnh không nghe thấy Ðính nói gì thêm. Một thoáng Trai chui ra. Ngồi nhìn nắng một lát Vĩnh lại chui vào với Ðính.

Anh hỏi:

"Thêm nữa hả?"

Ðính ngao ngán:

"Thêm ba cái đại ý dạy dỗ mình phải yêu thương nhau."

"Buồn cười nhỉ."

Ðính ngồi xuống góc hầm cầm cái điếu lên. Hắn nói:

"Chẳng buồn cười đâu. Tính tôi hay suy diễn. Ðể tôi suy diễn cái khẩu hiệu mới đưa xuống cho ông nghe thử. Nó nói rằng: ‘Các cải tạo viên phải thương yêu nhau, tích cực giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học tập cải tạo.’ Rõ là lũ chó đểu!"

Quả Vĩnh chưa kịp hiểu câu khẩu hiệu ấy chó đểu ở chỗ nào, anh chỉ ngạc nhiên thấy Ðính nổi nóng hơi khác ngày thường. Vĩnh biết tính Ðính rất điềm đạm.

Anh hỏi:

"Ðểu chỗ nào?"

"Câu này phải chia ra hai vế," Ðính nói. "Vế thứ nhất là câu ‘Các cải tạo viên phải thương yêu nhau.’ A, đừng tưởng nó thương gì mình đấy nhé. Nó chỉ muốn nói xa xôi cho mình biết mình sẽ ở đây mịt mù, sẽ đếm lịch dài dài."

"Sao vậy?"

"Ô hay, chứ bộ ông không biết câu ‘thú vật ở với nhau lâu ngày thì quyến luyến nhau, còn con người ở với nhau lâu ngày nhất định sẽ cắn xé nhau’ hay sao? Ðấy, vế này tiềm ẩn cái ý nghĩa ấy đấy."

Vĩnh tính hỏi còn vế sau ra sao thì Ðính đã tiếp ngay. Hắn nói, "Vế thứ hai mới độc. Nó bảo ‘tích cực giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học tập’ ông có hiểu ra sao không?"

". . . ?"

"Là phải theo dõi nhau; phải tích cực đấu tranh sai trái; một cái rắm lớn rắm nhỏ của nhau cũng không được phép bỏ qua; phải đem nhau lên bàn mổ; phải tố giác nhau tận tình để được. . . về sớm." Ðính làm một hồi với vẻ bực tức. Hắn kéo một hơi thuốc lào và trước khi chui ra khỏi căn hầm, hắn nói, "Chúng mình sẽ phải đi một đoạn đường thương khó dài hơn của Chúa, vác nặng hơn Chúa và thê thảm hơn nữa ở chỗ không được vác tà tà, không có người nâng hộ, mà vừa vác vừa phải chạy đua với nhau, bon chen kèn cựa cho đến lúc chết."

Rồi cả hai chui ra khỏi căn hầm. Buổi trưa nắng gắt. Trong các phòng người ta ngủ mê mệt. Vĩnh không biết đi đâu, không biết làm gì trong khoảng thời gian trống vắng này. Anh mò ra ngồi dưới bóng mát một cây điệp lớn. Nơi đây, mỗi chiều lao động về, một số đông tụ lại và biến gốc điệp thành trung tâm họp báo. Mọi tin đồn, mọi bình luận suy diễn đều xuất phát từ gốc cây điệp này. Nhưng giờ đây gốc điệp vắng tanh vì mọi người đang ngủ. Họ ngủ lấy sức cho những giờ lao động chiều.

Vĩnh ngó lên tàn cây rợp bóng mát. Một con rắn lục bụng to như có chửa quằn quại bò trên một nhánh cây. Lẫn trong tiếng chíu chít của bầy chim sẻ có con chim lạ vừa cất lên một tiếng gáy cô đơn. Sự hồi tưởng bất chợt trở về làm lòng Vĩnh tái tê. Chao ôi, đây là mộng hay thực? Ta đang ở đâu đây? Vì đâu nên nông nỗi này? Cuộc đời trước mắt Vĩnh thốt biến thành một mớ bòng bong và anh thấy mình sa vào vô phương thoát khỏi. Vĩnh bỗng thương nhớ lũ con anh vô cùng. Anh chợt hiểu một trong những đau đớn quằn quại nhất của anh khởi từ điểm này. Cứ tưởng tượng ngày nào bầy con anh lớn lên, chẳng cần chúng phải căm thù, chỉ cần chúng nhìn anh bằng ánh mắt hờ hững tuồng như nhìn một kẻ đã một lần "đi lạc" ra ngoài con đường lịch sử, đã phạm những tội ác mà chúng cho là không thể tượng tượng nổi -- kết quả của một đường lối tuyên truyền nhồi sọ, dựng đứng, và ác độc của cộng sản -- thì anh không rõ tâm hồn anh lúc ấy sẽ ra sao. Vĩnh đập mạnh vào trán đôi ba lần. Ôi thôi ta mắc kẹt thật rồi. Ý nghĩ tự sát lần nữa lởn vởn qua óc Vĩnh. Chưa bao giờ anh thấy mình bị xâu xé như lúc này. Ý chí thì muốn biến anh thành một chứng nhân của lịch sử; trong lúc trái tim lại thúc giục anh ra đi, thúc giục anh rời bỏ cõi này càng sớm càng tốt để chữ Tự Do mãi mãi còn được đậm màu. Một cái đinh hay một cái lưỡi lam. Vĩnh lại lắc đầu thật mạnh. Thốt nhiên anh nổi giận đùng đùng; nổi giận mà không biết vì sao mình nổi giận. Anh chộp một hòn đá ném mạnh lên cành cây có bầy chim đậu.

"Thằng kia, mày ném ai thế?"

Một tiếng quát. Vĩnh giật mình nhớ ra thực tế, nhớ ra bên ngoài hàng rào có một vọng gác. Hòn đá anh ném đã rơi trúng vọng gác đó. Vĩnh giả vờ như không nghe thấy. Anh chậm rãi đứng lên khỏi gốc điệp, rảo bước về phía các dãy trại.

"Thằng kia, đứng lại!"

Tiếng quát lần này lớn hơn và có kèm theo tiếng đạn lên nòng. Chẳng dại gì ngoái mặt lại để bị nhận diện, Vĩnh nhủ lòng. Anh vùng chạy thật nhanh về phía bếp khối 12, đâm sang bếp khối 11, đi vòng khối 11 và bọc về cửa sau khối 10. Vĩnh về chỗ nằm, cởi chiếc áo xanh nhét vào sắc, lôi chiếc áo nâu ra mặc. Anh tính trở ra ngoài nhưng hai thằng vệ binh có súng trên tay đã xuất hiện ngoài sân. Dáng dấp chúng cho thấy chúng đang lùng bắt một người.

Nằm yên tại chỗ, Vĩnh dặn lòng tự hậu phải kiểm soát thật kỹ mọi hành động của mình. Ðã lỡ lọt tay kẻ thù không nên để thiệt mạng vì những lý do lãng nhách; nhất là kẻ thù của anh, một thứ kẻ thù mà giáo chủ của chúng, Lênin, từng dạy rằng, "Chỉ cần một ý nghĩ thương xót bọn phản động thôi, thì người vô sản coi như đã phạm một trọng tội khó tha thứ!"

Vĩnh ngó quanh phòng. Hoá ra đâu phải tất cả đều ngủ. Nằm chen chúc đây đó vẫn có nhiều người vắt tay trên trán, mắt như gắn chặt vào một điểm trên trần đầy mạng nhện. Bên trái Vĩnh là anh chàng bác sĩ Ngô văn Tuyên, bên phải là trung uý Biệt động khoá 25 Võ bị Ðặng Xuân Bính. Nằm sát nhau trong khu vực tổ A.3 với Vĩnh còn có trung uý Hải quân Lê văn Trợ, trung uý Hải quân Nguyễn Văn, trung uý phi công Lê văn Sanh, trung uý phi công Quách Tứ, thiếu uý phân chi khu trưởng Nguyễn văn Hải, trung uý ban trận liệt/P.2/TTM Nguyễn văn Lộc, trung uý Quân nhu Lê văn Khoa, trung uý giảng viên Anh ngữ trường sinh ngữ quân đội/TTM Trần văn Nguyên. Xa xa chút nữa về phía trái thuộc tổ A.4 có ông già Chuân thiếu uý trợ y, người có bệnh nghiến răng đáng sợ; xa hơn tí nữa là ông Thiệu, tài xế biệt phái cục Tình báo Trung ương, một Moritz kiểu mới giờ thứ 25 Việt Nam. . .

Thốt nhiên Vĩnh nghĩ những khuôn mặt này rồi sẽ gắn chặt với anh trong bao lâu nữa? Và cho dù có cùng hoàn cảnh nhưng liệu họ có cùng một nỗi ray rứt đớn đau? Ông Chuân sau những giờ lao động về lôi ra mấy bánh thuốc lào đem theo, viên từng bi bán cho anh em bằng cái giá cắt cổ mười đồng năm bi và mỗi bi nhét chưa đầy nõ điếu; ông Thiệu, dù là tài xế biệt phái của Trung ương Tình báo, lại là người mù chữ, chỉ biết đọc mà không biết viết; thế thì cái đau mất nước của ông Chuân liệu có thống buốt bằng cái đau của cựu đại đội trưởng Biệt động Ðặng Xuân Bính? Và của ông Thiệu có giống của Ngô văn Tuyên -- kẻ hẳn đã quá rõ thân phận một Zivago sẽ phải như thế nào trong xã hội cộng sản?

Tiếng kẻng làm suy nghĩ của Vĩnh bị gián đoạn. Trong phòng sự im vắng bị phá vỡ tức thì. Người ta vội vã trổi dậy, kẻ lấy mũ, người lấy bình nước rồi nối đuôi nhau ra sân nắng tập họp.

Nắng Tây Ninh chang chang. Các khối đứng tập họp điểm danh ngay ngoài sân khối. Khối trưởng Trai sau khi báo cáo nhân số lao động cho quản giáo Cư xong, anh rút ra từ túi quần sau một quyển vở, mở ra và đọc, "Theo lệnh anh quản giáo, các anh sau đây ở lại nhà nhận công tác đột xuất: Nguyễn văn Năm, Trần văn Ích, Lê Thanh Nhàn, Bùi Lành, Trịnh. . ."

"Sao anh phức tạp thế," quản giao Cư chen vào với giọng bực dọc. "Sao không cắt nguyên một tổ cho nó dứt điểm mau?"

"Dạ anh đã chỉ thị chỉ lấy sáu người có sức khoẻ."

"Phức tạp. Hôm qua tổ nào trực?"

"Dạ A.5."

"Vậy hôm nay lấy tổ A.6." Hắn đảo đôi mắt cú vọ vào đám tù, hỏi khơi khơi, "Nhân số còn bao nhiều đi lao động?"

"Thưa anh Ðính ở nhà vẽ khẩu hiệu; anh Thuần anh Hiệp tiếp tục đào giếng; anh Cang, anh Tâm, và anh Ba Tô đắp bếp."

"Ba Tô là cái gì?"

"Dạ thưa tên anh ấy là Tô, anh em quen gọi Ba Tô."

"Ba tô với bốn bát! Tên tuổi phải gọi cho đúng. Mai đây các anh đều có số cá nhân, không thể tuỳ tiện thêm đầu thêm đuôi như thế được, nhớ chưa?"

"Dạ."

"Còn những ai ở nhà nữa?"

"Bác Chuân ở nhà đóng thùng thuốc tập thể cho khối."

Tên quản giáo bỗng trợn trừng mắt ngó khối trưởng Trai.

"Ðây là lần đầu và cũng là lần cuối," hắn nói, "tôi quán triệt để các anh rõ và nắm cho vững cách xưng hô trong trại cải tạo. Nơi đây, cấm chỉ gọi nhau bằng chú chú bác bác. Các anh đều có tội như nhau, đều vào đây học tập cải tạo như nhau, do đó bình đẳng, không ai là chú là bác của ai cả. Tất cả gọi nhau bằng anh, xưng tôi. Nghe rõ?"

Không ai trả lời ngoài khối trưởng Trai nuốt hận dạ khẽ một tiếng. Tên quản giáo lườm nhanh mọi người một cái, mỉa mai, "Vẫn chưa giải phóng được cái tác phong nguỵ. Chú chú với bác bác. Công tác phục vụ hỗ tương cũng cám ơn cám iếc" (**). Thốt hắn hỏi lớn, "Còn ai ở nhà nữa không?"

"Dạ kể cả tổ trực tổng cộng mười bảy người."

Tên quản giáo khẽ lắc đầu.

"Khối có 120 người, mười bảy ở nhà thế là suýt soát mất đi 14 phần trăm công trực tiếp lao động. Hơi nhiều."

Bọn tù đều giật mình như nhau. Một thằng cán binh cộng sản rõ ràng i-tờ-rít mà sao khi tính công lao động nó lại tính nhẩm nhanh đến thế. Thảo nào dân miền Bắc hai mươi năm xưa hát câu "áo anh rách vai quần tôi có hai miếng vá," hai mươi năm sau vẫn phải hát câu "quần tôi có hai miếng vá áo anh rách vai.

Tên quản giáo lẩm bẩm gì đó trong miệng. Và trước khi ra lệnh cho khối trưởng Trai dẫn tù lên lao động ở phi trường Trảng Lớn, hắn hỏi lớn.

"Anh Ðính đâu?"

"Có tôi."

"Lát nữa anh lên tiểu đoàn gặp chính trị viên!"
___
(*) rin: thứ gốc, không pha chế; rởm: thứ giả.

(**) trong việc giúp đỡ nhau hàng ngày người cộng sản không chấp nhận sự cám ơn. Họ quan niệm những công ích ta làm cho người khác, hay ngược lại, đều là nghĩa vụ của từng người trong sinh hoạt xã hội; mà đã là nghĩa vụ thì không ai phải cám ơn ai.
 

| Trang bìa | Ðầu trang |
1