Ðại
Học Máu
CHƯƠNG BA MƯƠI MỐT
Sau gần một tháng cật
lực chỉnh trang, tất cả những hàng rào ngăn cách giữa các
đội, tất cả những giàn mướp trước mỗi phòng, tất cả
những dãy phuy xếp lộn xộn quanh các bờ giếng, tất cả
những gian bếp nhỏ sau mỗi dãy nhà ngủ... đều bị dọn
sạch. Hệ thống đường mương cũ đã bị lấp lại, thay
vào là một hệ thống mới "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"
nói huênh kiểu... bác Hồ. Những cột điện trồng lẻ loi
đều bị hạ xuống. Những hàng cột điện mới được dựng
lên dọc các con lộ mới đắp trong trại. Ðây cũng là một
dịp để cho bọn tù toáy những ống sành cách điện đem
về làm ròng rọc kéo nước.
Sân trại 1 giờ rộng
hơn và bằng phẳng hơn. Kết quả ấy có được vì trong tháng
qua rất nhiều đội phải lao động cật lực lấy đất chỗ
cao đắp xuống chỗ trũng, và san bằng tất cả các luống
rau, ao rau và hầm cầu trong sân trại. Mọi người đã lầm
lũi lao động, tuồng như làm với hy vọng dọn bãi đáp cho
những chiếc Chinook bất ngờ.
Ðồng lúc ấy, các "nhà
ăn" kiểu Trảng Lớn cũng được thiết lập. Những mảnh
bao cát lại được thu lượm, tháo ra, giặt sạch, và đính
vào nhau thành một tấm bạt lớn đủ phủ kín vuông sân trống
giữa hai nhà ngủ. Bên dưới tấm bạt là những dãy bàn làm
bằng gỗ giác xin từ trên trại mộc.
Những bẫy ruồi cũng
được thực hiện. Nhưng những bẫy chuột tạo cho bọn tù
nhiều thích thú hơn. Tất cả mọi loại chuột, từ những
con chuột cống đen sì to tướng đến những con chuột chũi
hôi hám bỗng dưng đều được tù đổi thành một cái tên
chung: chuột đồng! Mà đã là chuột đồng thì có ai lại
chê bao giờ. Chiến dịch lùng chuột và xơi chuột bắt đầu
phát triển mạnh.
Một món ăn khác được
khám phá thêm nữa mà tác giả có lẽ là trung úy phi công
A.37 Trần Trọng Minh tự Tí Quạu (*): món chim én nướng. Nhiều
người theo gương Minh, cứ mỗi chiều đi lao động về họ
đem bẫy ra cắm đầy ngoài sân trại để bẫy chim én. Cái
bẫy thật giản dị. Chỉ cần một chiếc đũa tre, một đầu
đũa được chẻ làm ba nhánh, hai nhánh ngoài bằng nhau và
cao hơn nhánh giữa. Một sợi thòng lọng làm bằng sợi bao
cát. Cuống dây thòng lọng buộc chặt vào thân đũa, còn thòng
lọng giăng trên hai nhánh dài. Nhánh ngắn dùng để ghim mồi.
Mồi chim én không cần sơn hào hải vị mà chỉ cần một
chú ruồi lằng. Những chú én—sứ giả của mùa Xuân—chiều
chiều bay lượn trên sân trại tù tìm mồi. Phát hiện một
con mồi, chú ta sà qua hớt gọn nhưng nút thòng lọng đã chận
đôi cách của chú ta lại. Chú vùng vẫy là chuyện đương
nhiên. Nhưng càng vùng thì nút dây càng siết chặt. Bọn tù
ngồi xa xa ngó chừng. Khi thấy bẫy của mình đã "thu hoạch"
được một con én dại dột, họ lạnh lùng đứng lên "tiếp
thu" sự thắng lợi với ý nghĩ chiều nay ta sẽ có thêm một
tí chất thịt, dù rằng đó là tí thịt tanh tưởi của một
con chim có đẹp trong sách vở nhưng trên thực tế chỉ đớp
ruồi lằng.
Khi những cánh én lạc
loài của mùa Hè không còng thấy bay lượn, tuồng như chúng
đã hoảng sợ cho sự rong chơi hoặc kiếm ăn lầm mùa của
mình, đã rút về ngủ yên một nơi nào đó trên ngọn núi
Bửu Long chờ một mùa Xuân nào thích hợp, thì bọn tù coi
như đã hoàn tất xong mọi việc chỉnh trang trại tù mới.
Và khi trời Biên Hoà về chiều bắt đầu có những cơn mưa
mù thì việc lao động sản xuất của tù cũng bắt đầu đi
vào quy hoạch.
Trại 1 phụ trách vùng
đất phía Bắc của An Dưỡng, một vùng đất toàn đá ong
cỏ gai và những ụ mối lâu đời. Không ai có thể ước
lượng được nó rộng bao nhiêu mẫu, chỉ biết nó bao la
quá, khai quang mãi, cuốc mãi, lên luống mãi mà vẫn không
thấy hết.
Sáng sớm lòng không
dạ trống, uống vào bụng một lon guigoz nước lạnh
cho... nở c..., nói theo ngôn ngữ của tù cải tạo, rồi xếp
hàng đi lao động, đời không còn gì nản hơn. Cào, leng, xẻng,
cuốc trên vai; từng đoàn tù xếp hàng dài dài giữa con lộ
chờ lệnh cho vượt qua cổng để đến các hiện trường
lao động. Ở ngay nơi tập họp này, việc kiểm tra và điểm
danh nhân số thật gắt gao. Không cán binh nào có quyền cho
tù xuất trại, kể cả quản giáo và vệ binh, một khi chưa
được sự chấp thuận của tay an ninh ngồi trong phòng kiểm
soát ngay bên cổng trại. Khi nhà trưởng đã báo cáo nhân
số đi lao động cho quản giáo, đích thân quản giáo phải
đến đăng ký nhân số đó với cán bộ an ninh. Nhân số sẽ
được nhập sổ. Sau khi được chấp thuận cho rời trại,
tù sẽ lần lượt bước qua cổng trại dưới nhiều con mắt
quan sát và đếm số của bọn phụ trách an ninh cổng.
Về phía bọn tù lao
động cũng phải chấp hành thật nghiêm ngặt những nội quy
dành cho người đi lao động ngoài trại. Chẳng hạn ngoài
những dụng cụ lao tác, tù chỉ được đem theo người một
miếng ni-lông che mưa (nếu là mùa mưa) và một lon guigoz
đựng nước uống mà thôi. Biện pháp này chẳng ngoài mục
đích ngăn ngừa việc vượt ngục. Lận trong người tí muối,
tí đường, hay tí mì gói bị khám phá sẽ vất vả lắm;
và điều vất vả đầu tiên là sẽ phải chui vào nằm trong
cái conex tối như lâm-bô và nóng như hoả ngục.
Từ ngày chuyển trại
về
đây đám Vĩnh đói dài vì đợt gửi quà về Trảng Lớn đã
thất lạc hầu hết. Mặc dù bọn khung có hứa hẹn sẽ can
thiệp để tù được nhận lại đủ những món quà gia đình
đã gửi, những đã hai tháng qua chẳng mấy người nhận được.
Ngược lại, bọn cán binh cộng sản ở An Dưỡng đã thật
sự biết làm ăn kiếm tiền. Việc kiếm tiền bỏ túi của
chúng trọng tâm là bán khoai lang cho tù. Khoai mình trồng chúng
bắt mình thu hoạch rồi tính cân bán riêng cho mình ăn. Dù
biết hành động đó thật đểu giả nhưng tù không thể làm
gì khác hơn là vẫn phải hăng hái ghi tên đăng ký mua khoai.
Ða số ai cũng có hai mươi đồng tiền mới còn giữ được
từ dạo gửi quà đợt trước (nhà cầm quyền cho gia đình
gửi kèm số tiền này với quà để tù có tiền chi dụng
như mua giấy, bao thư và tem). Số tiền ấy cuối cùng cũng
chui hết vào túi bọn cai tù để tù có thêm những phần khoai
do chính mồ hôi nước mắt của mình trồng lên.
Hiện tại nhà B2 do Bính
làm nhà trưởng đang phụ trách việc lên luống. Ngày hai buổi
đám Vĩnh lê lết qua một đoạn đường dài gần năm cây
số để đến chỗ lao động. Biên Hoà đất đỏ, chuyện
ấy chẳng lạ; nhưng ở cái xó xỉnh của tỉnh Biên Hoà này
lại không có đất đỏ mà chỉ có đá đỏ. Mỗi ngày trầm
mình, hết dưới nắng lại mưa, đám Vĩnh phải vừa khai quang
vừa lên luống. Cỏ gai tây cắt da thịt kẻ có nhiệm vụ
khai quang. Hai tổ đi trước khai quang tới đâu thì ba tổ kế
tiếp ra công lên luống tới đó. Tổ 1 do Hoá làm tổ trưởng;
tổ 2 do Nhan Quang Minh, một guitarist cự phách, làm tổ
trưởng; tổ 3 do Âu Dương Lân làm tổ trưởng; tổ 4 do Bính
kiêm nhiệm chức tổ trưởng; và tổ 5 do Bùi Vịnh làm tổ
trưởng. Hoá thì không nói thêm, riêng Nhan Quang Minh có người
em ruột là Nhan Quang Phước ở cùng khối với Vĩnh trên Trảng
Lớn. Phước có biệt hiệu là "Phước trợn" vì hắn nghiện
nặng thuốc lào, nhưng mười lần đủ chục, cứ kéo xong
một hơi thuốc là luôn luôn ngã ngửa, mắt trợn trắng, miệng
sùi bọt mép như ngựa chạy đường dài, người run lên như
bị kinh phong giật. Bác sĩ Tuyên thời đó đã can Phước nhiều
lần: "Ông bỏ thuốc lào đi ông. Tiếp tuc hút có ngày ông
chết!" Nhưng mặc lời can gián, Phước vẫn tiếp tục hút,
tiếp tục lăn đùng, trợn mắt méo mồm và sùi bọt mép.
Còn anh chàng Âu Dương Lân thì luôn than thở về ông chú ruột
của anh ta thời còn sống chung trên L1: "Các ông xem, tôi ăn
cơm chung với ông ấy, ông ấy cứ lấy quyền chú ép tôi.
Lắm bữa tôi ăn chưa hết nửa bát thì mọi thứ trong lon
cóng đựng thức ăn chung đã không còn một cái gì. Ông ấy
lùa như máy!" Nhưng bây giờ chú cháu xa nhau, không lúc nào
anh không nhắc tơi ông chú với tất cả nhớ thương. Riêng
cái anh chàng Bùi Vịnh mới là kinh khủng. Hắn là trung úy
phi công, con trai của chủ hãng mền Sakimen (Sài Gòn kỹ nghệ
mền len) khá nổi tiếng. Nghe nói hắn gọi cựu đại sứ
Bùi Diễm bằng bác. Còn nhớ thủa mới về đây, Vịnh lè
phè không thua gì Kim. Hắn vụng về đến độ một đôi guốc
tự làm lấy mà đi cũng không xong. Chuyện lớn chuyện nhỏ
đều nhờ vả bạn bè, kể cả việc vuốt một đôi đũa
tre lấy cái ăn cơm. Hắn bảo cả gia tộc, trong có vợ con
hắn, đã đi Tây. Chẳng ai biết rõ vì sao cu cậu kẹt lại.
Những kỳ quà cáp gửi vào Vịnh nói đều do mẹ vợ và em
vợ lo. Riêng ông bố vợ của Vịnh cũng là một đại tá
đang cải tạo ngoài Bắc. Một kẻ lè phè như thế mà anh
em nỡ đủn ra làm tổ trưởng kể cũng tội. Lắm lúc Vĩnh
không nhịn được cười khi thấy Vịnh, vì trách nhiệm, phải
cuống cuồng năn nỉ anh em lao động giùm để đạt được
chỉ tiêu tối thiểu mà bọn quản giáo đã đề ra.
Dù sao, phải thừa nhận
từ ngày đi tù đến nay, B2 là nơi có không khí thoải mái
nhất. Khác với các nhà lối xóm, nhà B2 phè tối đa. Trong
lao động dĩ nhiên ai cũng phải làm cho xong chỉ tiêu của
mình, nhưng vì không khí thoải mái, gần như chẳng ai dòm
ngó ai, việc mỉa mai chế độ, ăn tục nói phét cho vui do
đó được phát huy tối đa. Những giờ lao động, nhờ thế,
qua đi một cách tương đối nhẹ nhàng. Quả thực lao động
khổ sai giảm đi sự cực nhọc rất nhiều khi một anh cuốc
nhằm một tảng đá ong cứng như thép, hai tay tê dại và mắt
nổ đom đóm, nhưng cái mệt hết ngay lúc được quăng cái
cuốc cong sang một bên, nói khơi khơi giữa trời đất: "Ðm.
cái đầu bác nó sao cứng thế!" Hoặc giả: "Tao vừa cuốc
đúng cái mả họ Hồ."
Chỉ tiêu trong ngày vào
thời điểm này tương đối nặng. Mỗi người mỗi ngày phải
lên một dãy luống có chiều dài từ mười tám đến hai mươi
mét, chiều ngang hai mét và đắp luống cao từ tám mươi phân
đến một mét. So với đất bên ngoài căn cứ Trảng Lớn
thì ở đây cực nhọc hơn nhiều; bởi như đã nói, đất
ở đây là đất đỏ, một loại đất dễ hoá đá ong dưới
tác dụng của nước mưa.
Vì chỉ tiêu như thế,
với tác phong lao động của B2, nhà trưởng Bính phải báo
cáo láo dài dài. Ðiều ấy dù sao cũng không làm Bính vui vẻ.
Ðã lắm lúc Bính nổi cáu với anh em nhưng rồi đâu hoàn
đó. Ðặc biệt vào mỗi cuối tuần, khi cả trại tiến hành
buổi thảo luận rút ưu khuyết điểm các mặt trong tuần,
có quản giáo trụ trì để chấm công, bình bầu những người
xuất sắc, Bính thật điên đầu không ít. Biết bầu ai xuất
sắc bây giờ? Và có ai ham cái xuất sắc ấy không? Chẳng
lẽ tuần nào danh sách những kẻ lao động xuất sắc đều
toàn nhà trưởng, nhà phó, tổ trưởng, tổ phó! Bính lâm
tình trạng khó khăn đến nỗi phải họp kín các tổ trưởng
và yêu cầu điều đình với tổ viên chịu giùm cho một kỳ...
xuất sắc. Mặc kệ trong tuần anh làm sao thì làm, tới lượt
anh được bình bầu xuất sắc, anh cứ việc ngồi yên để
nghe anh em ca tụng trước mặt quản giáo là đủ; xin đừng
khiêm nhường, đừng từ khước ngang xương mà kẹt chung cho
hệ thống xuất sắc luân phiên của cả nhà.
Buổi chiều đi lao động
về, nhà B2 cũng lè phè hơn ai hết. Những cái bếp con kê
san sát nhau ngay bên hiên nhà. Từng toán xúm lại nấu nướng
đủ thứ rau cỏ kiếm được trong ngày để ăn với nhau.
Chỉ một nhân vật duy nhất ‘solo" về mọi mặt là anh chàng
Nguyễn văn Ðáp. Anh gốc L4T2. Ðáp tuổi đã trung niên, và
theo lời khai báo trước tập thể của đương sự, mọi người
đều biết Ðáp bị bệnh đau lưng quanh năm do một tai nạn
gây thương tích nơi xương sống trước kia. Dầu sao ưu điểm
nổi bật nhất của Ðáp là, bằng mọi cách, từ khước lao
động. Trên một khía cạnh nào đó phải thừa nhận Ðáp
can đảm. Sống trong trại tù khổ sai cộng sản, từ chối
lao động là hành động cực kỳ liều lĩnh; nó sẽ gây cho
người đó đủ thứ khó khăn dây chuyền. Ðầu tiên là bị
kiểm thảo, bị đấu tranh, bị tự kiểm dài dài cho đến
khi phải công nhận châm ngôn "Lao Ðộng là Vinh Quang" của
nhà nước đúng tuyệt đối; thứ đến người ấy có thể
bị nhốt conex không ngày ra (ấy là chưa kể việc kín:
Ðáp từng thủ thỉ với vài bạn nằm cạnh rằng anh có hai
lý do chính đáng để không làm việc nặng: thứ nhất đau
thật, đau có giấy tờ y chứng do gia đình gửi vào; thứ
hai quy ước quốc tế về tù binh đã khẳng định không được
bắt các sĩ quan đối phương làm công việc khổ dịch.)
Một người đã tích
cực thực thi cái đức tính gan lỳ ỳ ẩu với anh em thì
dĩ nhiên anh em phải thua thôi. Chẳng lẽ đem anh ra đấu. Ðiều
này không nằm trong truyền thống bao che lẫn nhau của B2. Cuối
cùng giải pháp của tập thể đưa ra là chấp thuận cho Nguyễn
văn Ðáp làm người thường xuyên trực phòng. Làm sao giữ
cho phòng được "đẹp như công viên, sạch như bệnh viện"
là đủ. Thế nhưng không phải là không có người bực mình
khi Ðáp thẳng thắn từ chối nhiệm vụ thứ hai được tập
thể giao phó: ngày hai buổi xuống bếp nhận phần cơm rau
về cho cả nhà.
Ðáp nói:
"Chuyện này dứt khoát
tôi không thể làm được. Năm mươi phần cơm không phải
là một việc nhẹ. Tôi không đủ sức khuân cái máng
cơm ấy về cho cả nhà đâu."
Nhà trưởng Bính nổi
cáu:
"Nếu vậy nhà này phải
đóng một cái bàn thờ rồi mời anh lên ngồi. Mỗi buổi
đi lao động về, anh em chúng tôi sẽ quỳ lạy sống anh một
cái."
Phản ứng của Ðáp
khiến mọi người chưng hửng. Anh lập tức bù lâm bù loa:
"Các ông luôn luôn tỏ
ra đoàn kết, luôn luôn nói đến tình chiến hữu, mà sao các
ông lại nỡ trù ẻo một thằng bạn già như tôi. Các ông
chỉ muốn tôi chết bỏ vợ bỏ con."
Nhà phó Huỳnh Công Cẩn
cũng nổi sùng theo:
"Anh im cái họng anh lại.
Anh chết không ai ăn thịt anh được. Bệnh hoạn vô địch
nhà này phải nói là anh Vĩnh tổ 1. Nhưng anh ấy vẫn vui vẻ
đi lao động không làm phiền toái tới ai. Sắp xếp cho anh
như thế là cha người ta rồi. Hơi động tí việc nặng là
giãy nảy ai chịu cho thấu!"
Cãi qua cãi lại rốt
cuộc mọi người đều phải chịu thua cái liều của Ðáp.
Và nhiệm vụ của anh sau cùng vẫn chỉ là quét nhà, lau nền
nhà, sắp xếp lại những cái bếp con mỗi buổi sáng sau khi
anh em đã rời trại đi lao động. Tất cả những việc khác
như đi lấy cơm, làm những công tác đột xuất anh em gánh
vác hết. Riêng việc khuân cơm về phòng Ðáp cũng không phải
làm. Anh chỉ xuống bếp cầm quạt đuổi ruồi chờ anh em
đi lao động về khuân cho.
Nguyễn văn Ðáp, vì
có đức tính lỳ như thế, được anh em đặt cho cái tên
mới: Ông inoxidable!
B2 cũng có vài trục
trặc nho nhỏ trong nội bộ như thế, nhưng B2 chắc chắn sẽ
vui vẻ lâu dài nếu không có những vụ bị mất cắp xảy
ra sau đó. Nạn mất cắp này ngày mỗi gia tăng. Những người
bị mất cắp không thể nín lặng mãi mà không ta thán. Và
sự ta thán ấy người đầu tiên điên đầu vẫn là nhà trưởng.
Dù gì, Bính cũng phải chịu trách nhiệm trước tập thể.
Có lẽ nhóm Vĩnh là
nhóm bị mất cắp đầu tiên. Chẳng phải bọn anh giàu có
gì, nhưng nhờ cái cảnh góp lửa nấu khoai chung nên lúc nào
trông cũng có vẻ xôm tựu nhất. Mỗi khi mua được khoai lang,
Vĩnh, Hoá, Kim, kể cả Tiến bên B3 đều gộp chung vào một
bao cát móc nơi đầu giường Hoá.
Một buổi chiều lao
động về, sau khi Kim đã nhóm xong bếp để luộc khoai thì
Hoá mới khám phá ra bao khoai không còn nơi đầu giường nữa.
Nó đã không cánh mà bay, và có thể nó đã bay vào tối hôm
trước. Cả đám chỉ nói nhỏ với Bính, không muốn làm ầm
lên, thứ nhất xấu hổ chung, thứ hai kẻ gian sẽ hoảng sợ
và khó theo dõi.
Một hai bữa sau đó,
tổ trưởng Lân cằn nhằn cả buổi sáng vì mất sét cơm
để dành từ chiều hôm trước. Mở mắt dậy, đánh răng
súc miệng xong, Lân sửa soạn cho giây phút được sung sướng
nhai từng thìa cơm để dành của mình, nhưng anh bực biết
bao khi thấy lon cơm không còn trên đầu chỗ nằm nữa. Kẻ
lạ mặt đã đánh cắp từ lúc nào.
Việc mất cơm để dành,
mất khoai... đáng lý rơi vào quên lãng nếu không có một
vụ đánh cắp trầm trọng hơn đã xảy ra sau đợt gửi quà
vào đầu tháng 9 năm 1976. Cả nhà ai cũng có quà gia đình
gửi vào kèm 20 đồng tiền mới. Cũng có nhiều người có
nhiều tiền hơn nhờ gia đình khéo giấu trong thức ăn. Ðợt
ấy có lẽ người nhận được nhiều tiền hơn nhiều người
khác là Ðào của tổ 3. Trong gói quà ba ký Ðào "thu hoạch"
được năm tờ 20 đồng vốn được gia đình nhét giấu một
cách tài tình trong một bánh xà phòng.
Buổi chiều hôm lãnh
quà, Ðào tẩn mẩn ngồi dò chơi những con số trên mặt đồng
bạc. Vài tay khác cũng xúm lại so sánh những đồng bạc mới
với nhau. Sáng hôm sau cái sắc đầu chỗ nằm của Ðào biến
mất. Tệ hơn, trong sắc đó ngoài cái ví đựng 100 đồng
kèm ít giấy tờ quan trọng còn một cặp kính cận dày cộm
và đủ thứ hình ảnh gia đình. Khi phát giác ra mình bị mất
cắp, Ðào hô hoán ầm ỹ, rồi rút ngồi trong một góc phòng
vì không có kính cho cắp mắt cận nặng. Lúc ấy giờ đi
lao động đã đến, Bính cho Ðào ở nhà và dặn đừng làm
ầm ỹ vụ này nữa, để hắn tính khi đi lao động về.
Giờ cuốc đất sáng
hôm ấy không ai vui vẻ. Bính đã theo dõi và đã tình nghi
một người, đồng thời cũng có nhiều người khác tình nghi
như vậy. Buổi trưa về tới trại, trả cuốc trả xẻng xong,
Bính ra lệnh tất cả không ai được vào phòng. Hắn nhất
định kêu các tổ trưởng vào để cùng mở một cuộc lục
soát hành trang của tất cả mọi người. Dĩ nhiên có người
phản đối, nhưng phần lớn đều muốn Bính làm ngay để
kẻ gian không có thì giờ tẩu tán đồ ăn cắp. Quản giáo
có lên án tuỳ tiện, không báo cáo trước, thì cả tập thể
B2 sẽ lãnh chung trách nhiệm. Bính được đa số hậu thuẫn,
hắn lôi ngay cái túi của mình xuống và yêu cầu các tổ
trưởng khám trước tiên. Kế đó Bính yêu cầu lục soát
thêm của vài người nữa. Vĩnh đứng ngoài thấy rõ việc
lục chỉ là chiếu lệ. Và cái sắc đáng lục nhất, theo
dự đoán của mọi người, đã tới. Ðó là cái sắc đồ
sộ vào bậc nhất của nhà B2 mà người sở hữu là Phạm
An Toàn, một tay bị anh em nghi ngờ có máu bất lương từ
hồi ở khối 3, L4T3.
Cái sắc dĩ nhiên được
lục tung ra. Thôi thì đủ mọi thứ linh tinh. Thốt nhiên một
người đứng bên ngoài kêu lên: "Ê mấy ông, mấy ông xem
giùm cái đồng hồ đang cầm đó có phải hiệu Boulevard, mặt
đồng hồ có số La Mã không?"
Theo lời đề nghị,
các tổ trưởng xem xét chiếc đồng hồ và thấy đúng như
lời báo động. Ngay sau khi được Bính xác nhận nó quả là
một cái đồng hồ hiệu Boulevard và có những con số La Mã,
mấy tay thuộc các nhà khác đứng ngoài đồng thanh la lớn:
"Ðúng là cái đồng hồ của Phước khối 3 rồi. Ai chạy
qua C2 báo cho nó biết đồng hồ của nó đã được tìm thấy.
Thằng Toàn ăn cắp! Thằng Toàn ăn cắp!"
Mấy phút sau người
được gọi là chủ cũ chiếc đồng hồ bị mất cắp từ
Trảng Lớn đã có mặt; tuy nhiên, Bính yêu cầu tất cả yên
lặng và chiếc đồng hồ chưa thể hoàn trả lúc này. Cuộc
khám xét tiếp tục. Lê văn Tần, anh chàng thiếu uý kịch
sĩ hiện thuộc tổ 3 nhà B2, nhưng lại có công tác đặc biệt
cho tiểu đoàn là làm trưởng toán một nhóm chuyên môn đi
mắc dây điện, bỗng nhiên la lớn: "Ối trời đất ơi, cái
ví của tôi đây rồi!"
Ba ngày trước Tần than
thở mất một cái bóp phơi, không có tiền nhưng chỉ có tấm
ảnh cô bạn gái của anh. Cái bóp phơi hoá ra đã chui vào
nằm trong sắc của Toàn. Một tiếng than thầm nặng tính khôi
hài cất lên: "Tội nghiệp, kẻ gian mắc nạn."
Riêng Phạm An Toàn đã
được triệu vào ngồi chứng kiến cuộc lục soát mớ đồ
đạc của hắn. Thoạt đầu hắn còn cứng giọng, đòi phải
có quản giáo trực tiếp kiểm tra, đòi phải có sĩ quan an
ninh trại chứng kiến... Nhưng bây giờ thì hắn đã im lìm
như một hòn đá, mắt hoảng hốt và sợ bạc mặt bạc mày.
Những món đồ kế tiếp
bị lôi ra. Thỉnh thoảng lại có một tiếng la lớn của một
người nào đó vừa nhận ra được món đồ đã mất của
mình. Một cái quần Jean rách, một chiếc áo sơ-mi, một bộ
domino, thậm chí có cả vài tấm bao cát mới cũng bị nhận
ra. Sau cùng thì đám kiểm soát tìm thấy một gói giấy gói
thật kỹ. Mở gói giấy thấy ngay cái kính cận dày.
"Trúng mỏ rồi!"
Một tiếng thét từ
ngoài vọng vào.
"Oánh bỏ mẹ nó đi!"
"Một con sâu làm rầu
nồi canh!"
"Mất mặt chỉ vì thằng
ăn cắp!"
Nhiều tiếng la hét nối
tiếp lúc Binh lôi trong gói giấy ra một xấp tiền còn mới
toanh. Bính chưa biết tính sao với mớ tiền trên tay, thì ngoài
dự đoán của mọi người, Toàn hầm hầm đứng dậy. Hắn
cất cái giọng nửa đực nửa cái:
"Tôi yêu cầu anh Bính
không được lạm quyền. Anh không thể cả quyết tiền này
là tiền của anh Ðào được."
Giọng "nhân dân" từ
ngoài rú lên:
"Ngoan cố, thế những
tang vật kia là cái gì?"
Toàn quay lại đám đông,
giọng liều lĩnh:
"Những cái đó tao lượm
được, còn tiền này là tiền của tao."
Ðến lúc này Ðào mới
lên tiếng sau khi nó đã xin lại được cặp kính cài vào
mắt:
"Xin các anh bình tĩnh.
Tôi chưa xem những đồng bạc đó nhưng tôi nhớ số, không,
nhớ series những đồng bạc của tôi. Hình như anh Bùi
Vịnh cũng nhớ vì hôm qua anh có đọ những đồng bạc của
anh với của tôi."
Bùi Vịnh là tổ trưởng,
đang tham dự vụ xét đồ, anh không muốn mang tiếng thiên
vị nên phủ nhận ngay:
"Hôm qua tôi có nhìn
chơi mấy đồng bạc mới của anh Ðào, nhưng quả tình tôi
không nhớ số."
Ðào tiếp:
"Vậy cũng không sao,"
Nó ngẫm nghĩ một chút, rồi tiếp. "Bây giờ có tập thể
ở đây làm chứng, nếu tôi đọc đúng series đồng
bạc của tôi, anh Toàn tính sao?"
Toàn thấy mình đã gần
đường cùng đành liều kiểu nhất chín nhì bù. Hắn hơi
thấp giọng:
"Nếu vậy yêu cầu anh
đọc số đi!"
Bính cầm trên tay những
đồng bạc mới và ra lệnh cho Ðào đọc. Ðào lớn giọng:
"Tôi không thể nhớ
hết bảy tám con số đâu, nhưng có thể khẳng định tiền
tôi có số serial L và khởi đầu bằng những con số
327. Nó lại ngẫm nghĩ một chút nữa, rồi reo lên. "Ðúng
rồi, 3279. Ðó là những con số đầu của hàng số chín con.
Có đúng không?"
Các tổ trưởng xúm
lại coi mấy tờ bạc cùng với Bính. Họ dò từng tờ và
khi thấy quả năm tờ đều có cùng những con số như vậy,
Huỳnh Công Cẩn mới tuyên bố:
"Những lời xác nhận
của anh Ðào đều đúng!"
Toàn vừa tính lên tiếng
thì Ðào đã lên tiếng trước:
"Tôi cũng xin thưa với
anh em, tôi nhớ tôi có viết một chữ rất nhỏ trên một
góc đồng bạc."
Nói tới đây Ðào chợt
dừng và ngần ngại như thấy mình hơi... dại. Bính hỏi ngay:
"Anh viết gì?"
Trước đám đông đào
có vẻ ngượng thật, nhưng lại nghĩ lời khai sau cùng này
mới là quan trọng, và nếu như tờ bạc mang đúng hàng chữ
đó, Phạm An Toàn chỉ có chạy lên trời. Ðào đằng hắng
một cái, rồi khai:
"Tôi có viết một câu
rất nhỏ nơi góc một đồng bạc; đó là hàng chữ... tôi
yêu em."
Bính tìm ra hàng chữ
đó không khó. Hắn đem tờ bạc mang hàng chữ ra trình cho
mọi người xem.
Màn khám xét coi như
chấm dứt. Thiên hạ lục tục kéo nhau về. Riêng B2 buổi
trưa vội vã chia cơm vì giờ ăn đã quá muộn. Còn các ông
trưởng phó bàn bac với nhau một lúc, và tiến tới giải
pháp sau cùng là phải đi báo cáo!
Cơm nước xong, theo lời
khai của Toàn, Ðào tìm đến một hầm cầu tiêu ở bên kia
con lộ với hai ba người bạn khác. Bằng một cái cây, nó
đã khều lên được cái túi trong có bộ quần áo cũ và mớ
hình ảnh thân yêu đã bị phân lẫn dòi bám đầy.
Lúc mọi người sửa
soạn đi lao động, Ðào vẫn ôm mớ ảnh đã bị rửa nước
ướt mèm ngồi tấm tức khóc. Chẳng ai buồn chia sẻ nỗi
hậm hực của nó. Mà chia sẻ được gì bây giờ, khi số
tiền của nó đã vượt quá mức quy định và bị tịch thu;
còn việc thằng Toàn ném hình ảnh gia đình nó xuống hầm
cầu thì nó có được đấm vỡ mặt thằng ấy ra chắc cũng
chưa đủ hả giận; nói chi đến việc tên ăn cắp lại được
khung cho về đi lao động như thường sau khi chỉ làm sơ sài
một bản tự kiểm. Ðiều này đã một phần xác nhận câu
rỉ tai với nhiều người trước đây của thiếu úy trợ
y Phạm An Toàn là khả tín: "Tao có ông anh làm trung tá cách
mạng ở Mỹ Tho. Ông ấy đã vào thăm tao mấy lần nhưng vẫn
phải có anh quản giáo ngồi bên cạnh."
--
(*) trong một dịp
ghé thăm tác giả ở San Diego vào tháng 3 năm 1984, anh Lý Tống—
một cựu sĩ quan Không quân nổi tiếng thế giới vì đã vượt
qua bốn quốc gia ở Nam Á Châu bằng đường bộ để tìm
tự do—cho tác giả biết Trần Trọng Minh là bạn của anh
thời còn phục vụ trong KQVN và sau này Minh đã bị bọn cai
tù đánh đến chết. |